Trang chủ Tags Posts tagged with "chứng khoán, chung khoan, học chứng khoán, hoc chung khoan, chung khoan online, chứng khoán online, học chứng khoán online, hoc chung khoan online, choi chung khoan, chơi chứng khoán, cách chơi chứng "

chứng khoán, chung khoan, học chứng khoán, hoc chung khoan, chung khoan online, chứng khoán online, học chứng khoán online, hoc chung khoan online, choi chung khoan, chơi chứng khoán, cách chơi chứng

Thành công bắt nguồn từ cách nghĩ, nếu bạn có thể tư duy được như người giàu, một ngày nào đó chắc chắn bạn sẽ giàu.

Không có nơi nào quá sang trọng cả

Đừng tỏ ra khúm núm, khép nép khi đến những nhà hàng sang trọng, những quán cà phê đẹp lung linh hay một tiệm spa có giá cả đắt đỏ. Bạn hãy xem đó như một điều bình thường trong cuộc sống, một nơi tất yếu bạn phải đến vì mục đích cá nhân hoặc công việc. Khi bạn cảm thấy bản thân không hợp với những nơi này, bạn sẽ không có cơ hội vươn đến những thứ cao hơn. Sự xa xỉ được mở ra cũng chỉ để phục vụ con người. Tập làm quen với những nơi mà bạn cho là “sang trọng”, sẽ đến một lúc nào đó, bạn sẽ đủ tầm để đi đến những nơi này thường xuyên mà không phải bận tâm về giá tiền. Việc đến những nơi này nhiều cũng sẽ mở ra cơ hội cho bạn tìm hiểu nhiều về cách sống, cách hành xử của những người thuộc tầng lớp trung lưu.

Học cách tư duy như người giàu

Đừng tiếc tiền nếu điều đó xứng đáng

Người giàu đôi khi dùng hàng hiệu không phải vì muốn chứng tỏ đẳng cấp. Họ biết cách tiêu dùng thông minh. Vì bạn có thể bỏ 500k ra mua một chiếc áo có thể mặc cả năm, còn hơn mua 5 chiếc áo khác nhau nhưng kiểu xấu, chất vải không đẹp và chỉ mặc được 1 tháng. Đừng tiếc tiền khi mua một món đồ chất lượng với giá cả hơi đắt một chút. Bạn không hề xài sang hay lãng phí, bạn biết cách chi tiêu đúng mực. Đôi khi mua những món đồ chất lượng cũng là cách tạo động lực để bạn cố gắng làm việc hơn.

Ăn mặc, hành động theo cách khá giả

Không nhất thiết bạn phải mặc đồ hiệu và chi tiền triệu cho một bữa ăn mới có thể gọi là khá giả. Sự khá giả ở đây có thể rèn luyện qua cách bạn chọn gu ăn mặc, cách bạn ăn uống, mua sắm, tiêu dùng… Những người giàu thường không khoe mẽ quá nhiều, họ ăn mặc rất đơn giản nhưng lại toát lên được sự thanh lịch, họ ăn uống những món ngon trong những quán ăn có giá cả hợp lí, và chỉ mua sắm những thứ cần thiết cho cuộc sống của mình. Bạn có thể quan sát, học hỏi điều này từ những người xung quanh.

Đừng bao giờ mặc cảm về hoàn cảnh

Rất nhiều bạn không giàu, nhưng họ biết cách khiến người khác tin rằng họ sẽ không nghèo mãi, qua cách họ thể hiện. Bạn nên hạn chế than nghèo kể khổ, hay than vãn, hay ghen tị với người giàu. Hãy thoải mái chia sẻ với người khác rằng bạn đã đi đến những nơi thú vị nào, ăn những món ngon ở đâu, mua những món nào đắt tiền… Hãy tỏ ra bình thường khi nói về những điều này, vì khi bạn còn đề cao vật chất, có nghĩa là bạn vẫn còn mang tư duy của người nghèo.

Biết tìm hiểu và thắc mắc

Người nghèo thường nghĩ rất gần và vấn đề họ quan tâm đơn giản chỉ là: “Làm sao để có tiền?”. Trong khi người giàu thì luôn tìm hiểu và khám phá mọi điều. Bạn phải luôn trong tâm thế thích khám phá, tìm hiểu và thắc mắc về mọi vấn đề trong cuộc sống. Chẳng hạn như khi đi du lịch, hãy tận dụng quỹ thời gian có thể để đi được càng nhiều nơi càng tốt, thưởng thức được những món ăn địa phương càng nhiều càng tốt.

Peter Smith đã làm việc trên thị trường chứng khoán phố Wall hơn 20 năm. Công việc này đem lại cho ông những món tiền khá lớn, cuộc sống của Peter luôn sung túc. Tuy nhiên, bù lại Peter phải làm việc khá vất vả, đôi khi phải làm việc cả những ngày nghỉ cuối tuần. Nhiều chuyên gia đã nói nếu không có những người như Peter tại phố Wall thì hẳn thị trường chứng khoán Mỹ sẽ không có được như ngày hôm nay. Và Peter chính là một nhà môi giới chứng khoán.

Một trong những nguyên tắc căn bản vận hành thị trường chứng khoán là nguyên tắc trung gian, thể hiện rõ nét nhất với vai trò và hoạt động của các nhà môi giới. Dù hoạt động ở thị trường nào thì những nhà môi giới chuyên nghiệp được chọn lọc này cũng phải đăng ký và được cấp phép hành nghề.

Các nhà môi giới là những đại diện thu xếp giao dịch cho khách hàng và hưởng hoa hồng. Người môi giới không mua bán chứng khoán cho mình, họ chỉ là người nối kết và giúp thực hiện yêu cầu của người mua, kẻ bán. Chứng khoán và tiền được chuyển dịch qua lại từ khách bán sang khách mua. Trong quá trình đó nhà môi giới không đứng tên chứng khoán. Quần chúng đầu tư thì gọi họ bằng “customer’s man” hay “stockbroker”.

Khi cung cấp những lời hướng dẫn hoặc tư vấn cho khách hàng trong việc đầu tư chứng khoán hoặc liên quan đến việc mua bán cổ phiếu niêm yết, vai trò của một nhà môi giới là rất quan trọng. Vậy đâu là một broker thực thụ?

Tiếp xúc và tìm hiểu khách hàng

Điều cần thiết nhất đối với một broker chuyên nghiệp trước khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng là phải thu thập và tổng hợp thông tin liên quan đến khách hàng.

Tại phố Wall, các broker thường thu thập và tổng hợp thông tin thông qua việc khách hàng khai tại các mẫu biểu đơn, đơn xin đăng ký làm khách hàng, qua hỏi trực tiếp hoặc qua các hình thức khác để tổng hợp mọi số liệu liên quan đến khách hàng có lợi ích cho việc đánh giá khả năng tài chính của khách hàng và xác định việc cung cấp những lời hướng dẫn và tư vấn đầu tư vào chứng khoán. Sau khi nhận được những thông tin liên quan đến khách hàng, các broker sẽ ghi lại và lưu giữ trong máy tính của mình.

John Mayer, một broker có kinh nghiệm tại phố Wall cho biết: “Điều cần thiết là chúng tôi phải thường xuyên thu thập và cập nhập thông tin liên quan đến khách hàng. Chúng tôi phải sử dụng sự mẫn cảm về nghề nghiệp trong việc xem xét phân loại thông tin cho phù hợp với từng đối tượng khách hàng, xem khách hàng là ai, có thể họ là nhà đầu tư có tổ chức, là người mua chứng khoán theo tuần tự các quy định trong bản chào hàng hoặc họ chỉ mua cổ phiếu đơn thuần mà thôi”.

Nếu khách hàng từ chối việc cung cấp thông tin, các broker sẽ cố gắng bằng cách khác để thu thập cho được thông tin của khách hàng. Trường hợp những thông tin thu được từ khách hàng không đủ để đánh giá mức độ rủi ro của họ hoặc không thể đưa ra những hướng dẫn phù hợp với khách hàng thì phải từ chối, không nhận đăng ký từ khách hàng. Còn khi đã nhận khách hàng, với tư cách là một nhà môi giới giỏi, bạn cần quan sát thường xuyên những biểu hiện của họ. Một broker giỏi luôn quan sát tính cách, hành vi của khách hàng, tìm hiểu khả năng tài chính và mức độ tin cậy của khách hàng thông qua các công ty chứng khoán khác hoặc những tổ chức tài chính mà khách hàng đã từng sử dụng dịch vụ.

Có những chỉ dẫn phù hợp

Tại phố Wall, Hồng Kông cũng như nhiều thị trường chứng khoán khác, các broker phải cung cấp những lời chỉ dẫn phù hợp với khách hàng trên nguyên tắc:

Lời chỉ dẫn phải phù hợp với mục tiêu đầu tư của khách hàng,. Mỗi khách hàng đều có tính cách và mức độ chịu rủi ro khác nhau, vì vậy, khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng, nhân viên môi giới phải làm cho khách hàng hiểu quy luật của việc đầu tư, rủi ro có thể gánh chịu.

Lời hướng dẫn phải tính đến việc phân bổ rủi ro trong đầu tư cho khách hàng, nhất là những rủi ro có thể làm cho khách hàng không đạt được lợi nhuận như mong muốn.

Lời hướng dẫn phải là những số liệu thông tin công khai trước công chúng, không nên dùng những số liệu thông tin là tin đồn hoặc không có cơ sở thực tế. Trường hợp thông tin là ý kiến nhận xét của bản thân thì các broker phải nói rõ cho khách hàng biết đó là ý kiến nhận xét của mình không phải là các số liệu thông tin phân tích thực tế, đồng thời phải để cho khách hàng tự quyết định đầu tư.

Lời hướng dẫn liên quan đến quy mô đầu tư và tần số mua bán phải phù hợp với từng khách hàngvà phải tính đến địa vị tài chính và mục đích đầu tư của khách hàng là chính. Không được đưa ra những lời hướng dẫn mua bán chỉ vì mục đích thu phí hoa hồng.

Các broker không được đảm bảo hoặc hứa về lợi ích mà khách hàng sẽ thu được từ việc mua bán chứng khoán, kể cả lời nói hay bằng văn bản. Một broker giỏi sẽ không bao giờ thúc giục khách hàng mua bán mà phải tạo điều kiện cho khách hàng tham khảo thông tin cho đầy đủ trước khi quyết định đầu tư.

Những broker chuyên nghiệp tại phố Wall luôn nắm vững quy tắc không bao giờ sử dụng thông tin nội bộ để hướng dẫn cho khách hàng trước khi thông tin đó được công bố ra công chúng, đồng thời họ hiểu rằng sẽ là tự loại mình ra khỏi cuộc chơi chung nếu “ăn chặn” của khách hàng bằng cách sử dụng thông tin nội bộ để trục lợi cho mình, cho công ty hoặc những người liên quan khác

Thực hiện lệnh theo yêu cầu của khách hàng

Thông thường, một broker phải thực hiện lệnh mua bán theo nhu cầu của khách theo thứ tự các bước được quy định sẵn. Việc chuyển lệnh phải đúng theo lệnh đặt của khách hàng và phải cố gắng thực hiện lệnh với giá tốt nhất trong thời điểm đó.

Các broker không được chuyển lệnh giao dịch khi biết khách hàng quyết định mua bán thông qua việc sử dụng thông tin nội gián. Trường hợp biết loại chứng khoán mà khách hàng sẽ mua hoặc bán, hoặc sẽ hướng dẫn cho khách hàng mua bán, các broker không được mua hoặc bán loại chứng khoán đó cho bản thân hoặc cho công ty trước khi mua bán cho khách hàng, dẫn đến việc làm cho khách hàng bị thua thiệt. Một trong những quy tắc của broker trên thị trường là không được quyết định mua bán thay cho khách hàng.

Cư xử công bằng với khách hàng:

Một nhân viên broker chứng khoán giỏi bao giờ cũng cư xử với khách hàng một cách công bằng. Họ sẽ thường xuyên hướng dẫn và thực hiện lệnh cho khách hàng một cách bình đẳng và không phân biệt đối xử.

Việc công bố báo cáo phân tích hoặc bất kỳ thông tin số liệu nào có thể tác động đến giá cả chứng khoán, nhân viên broker phải cố gắng thực hiện sao cho khách hàng biết một cách đồng đều để khách hàng có thể sử dụng lợi ích từ các báo cáo, thông tin số liệu trên như nhau.

Yêu tố tôn trọng và bất khả xâm phạm được đặt lên hàng đầu

Một trong những nguyên tắc xuyên suốt tại phố Wall và nhiều thị trường chứng khoán khác là các broker không bao giờ lợi dụng tài sản hay tài khoản giao dịch của khách hàng và phải nghiêm chỉnh thực các hoạt động môi giới theo đúng chức năng của mình.

Các broker trung thực luôn từ chối và tránh xa những lợi ích gì liên quan đến lỗ lãi của khách hàng mặc dù có những trường hợp làm vì mục đích giúp đỡ khách hàng.

Công bố những xung đột về lợi ích

Trong việc hướng dẫn khách hàng đầu tư, nếu có xung đột về lợi ích giữa công ty với khách hàng hoặc giữa broker với khách hàng mà có thể tác động đến kết quả đầu tư của khách, các broker phải công bố rõ những thông tin liên quan đến xung đột trên cho khách hàng để họ đánh giá, xem xét đầu tư.

Các broker giỏi cần phân biệt đâu là trường hợp được coi là xung đột về lợi ích. Đó là trường hợp công ty nắm giữ, tổ chức phân phối hoặc bảo lãnh phát hành một loại chứng khoán nào đó; công ty hay lãnh đạo công ty có mối quan hệ hoặc có lợi ích với một loại chứng khoán nào đó. Trong những trường hợp này, các broker phải thông báo rõ cho khách hàng biết những ý kiến hướng dẫn về loại chứng khoán đó.

Ngoài ra, trường hợp công ty hoặc nhân viên broker sẽ mua loại chứng khoán mà khách đặt lệnh bán cho chính mình, các broker phải thông báo tin trên cho khách hàng biết để khách hàng xem xét lại, xem giá mà khách hàng đề nghị bán đã là giá tốt nhất trong thời điểm đó chưa.

Giữ bí mật cho khách hàng

Một điều tối cần thiết trong hoạt động của các broker là giữ bí mật, không được công bố những thông tin cá nhân, thông tin về mua bán chứng khoán hoặc thông tin liên quan đến tài chính của khách hàng cho người khác biết. Theo quan niệm chung, hành động trên của các broker có thể tác động đến lợi ích hoặc hình ảnh của khách hàng, trừ trường hợp có sự chấp thuận của chính khách hàng hoặc việc công bố theo quy định pháp luật về chứng khoán.

Nghề môi giới chứng khoán là một nghề khá đặc biệt, đem lại lợi nhuận lớn không kém gì đầu tư chứng khoán mà không cần phải có vốn lớn. Đây là nghề đòi hỏi trí tuệ và sự nghiên cứu của các nhà môi giới. Bởi nếu bạn không giỏi, không có khả năng thực sự thì không bao giờ nhà đầu tư uỷ thác cho bạn số vốn của họ để đầu tư vào thị trường chứng khoán. Ngoài những kiến thức chuyên môn, một nhà môi giới chứng khoán chỉ có thể thực hiện thành công hoạt động môi giới của mình nếu biết và hình dung trước những rủi ro sẽ gặp phải cũng như có những biện pháp để quản lý rủi ro.

Qua hàng trăm năm phát triển, một chân lý môi giới chứng khoán thành công tại thị trường phố Wall đã được đúc rút: Những nhà môi giới thông minh, giành thắng lợi được là nhờ “Hiểu được khách hàng cần gì và bản thân mình muốn biết những gì từ khách hàng”. Hay nói như một khẩu hiệu của một nhà môi giới tại Mỹ: Nếu bạn là nhà môi giới giỏi thì bạn có thể làm ít nhưng tiền vẫn nhiều. Đây chính là chìa khoá để dẫn tới thành công.

(Tổng hợp)
Trần Phương Minh

“Không có gì mới ở Phố Wall hoặc đầu cơ cổ phiếu. Điều đã xảy ra trong quá khứ sẽ lập lại mãi. Đó là bởi vì bản chất của con người không thay đổi, và cảm xúc con người tuỳ thuộc vào khả năng hiểu biết của họ. Điều mà tôi chắn chắn” Jesse Livermore

- Kiểm soát cảm xúc là nhân tố căn bản nhất khi giao dịch trong thị trường. Đừng bao giờ mất kiểm soát cảm xúc khi vận động của thị trường chống lại bạn. Và đừng bao giờ cảm thấy phấn khởi với thành công của bạn tới mức bạn nghĩ thị trường dễ kiếm tiền. Đừng bao giờ chống lại thị trường, nó là sự thật … thuận theo thị trường.

Đừng dự đoán! Chờ cho đến khi thị trường cho bạn manh mối, tín hiệu, gợi ý, trước khi bạn tham gia. Tham gia chỉ sau khi bạn thấy được sự xác nhận. Dự đoán là việc rất khó. Nó là bạn của sự tham lam và hy vọng. Đừng quyết định dựa trên dự đoán. Thị trường luôn cho bạn thời gian. Nếu bạn chờ manh mối, có nhiều thời gian để thực hiện giao dịch.

- Tất cả cổ phiếu giống con người, với những tính cách khác khác nhau:hung hăng, nhút nhát, bốc đồng, nóng nảy, bộc trực, chậm hiểu, cổ điển, hiện đại, hợp lý, vô lý. Nghiên cứu cổ phiếu như bạn nghiên cứu con người, một lúc sau, phản ứng của chúng với hoàn cảnh cụ thể có thể đoán được. Vài người giao dịch giới hạn giao dịch của họ với những cổ phiếu trong vùng giá cụ thể.

- Đừng mất thời gian tìm hiểu vận động giá của những cổ phiếu riêng lẻ. Đúng hơn, xem xét thực tế về chính những cổ phiếu đó. Câu trả lời nằm ở trong điều mà thị trường đang diễn ra, không cố tìm hiểu tại sao, điều quan trọng nhất – đừng bao giờ tranh cãi với thị trường.

- Những người giao dịch cổ phiếu có thể bị thuyết phục xa rời nhận định của anh ta khi nghe lời khuyên của người khác, bị thuyết phục đánh giá của anh ta bị sai. Nghe theo người khác có thể gây ra sự do dự và đánh giá sai. Sự do dự này có thể làm mất sự tự tin, điều này có thể đồng nghĩa với mất tiền.

- Lời khuyên đến từ nhiều nguồn – họ hàng, người yêu quí , bạn thân là những người đầu tư nghiêm túc và muốn gia tăng tài sản của anh ta. Họ cũng có thể là những người hám lợi, tội phạm. Nhớ rằng: tất cả lời khuyên đều nguy hiểm – không nghe lời khuyên!

- Loại bỏ sự hi vọng khỏi từ điển giao dịch của bạn. Hy vọng một cổ phiếu tương tự như một hình thức đánh bạc thật sự. Nếu bạn không có lý do vững chắc để nắm giữ cổ phiếu, vậy thì chuyển sang giao dịch khác hợp lý hơn. Hy vọng cổ phiếu lên, hoặc xuống gây ra suy sụp của nhiều nhà đầu cơ cổ phiếu. Hy vọng luôn đồng hành với sự tham lam.

- Luôn nhận ra cảm xúc của bạn – đừng quá tự tin vào thành công và đừng chán nản với thất bại của bạn. Bạn phải luôn bình tĩnh và cân bằng trong hành động.

- Không có điều gì thay đổi trong thị trường. Chỉ có một thứ, sự thay đổi là người tham gia và người tham gia mới không có ký ức về tài chính xảy ra trong chu kì lớn trước, giống sự sụp đổ 1907 hoặc 1929 bởi vì họ chưa trải qua khoảng thời gian ấy. Điều đó mới mẻ với nhà đầu cơ – nhưng không mới với thị trường.

- Luôn có phương pháp đầu cơ, một kế hoạch tấn công.Và luôn theo sát kế hoạch của bạn.Đừng thay đổi kế hoạch của bạn liên tục. Hãy tìm cho mình một phương pháp hiệu quả về mặt cảm xúc và trí tuệ, và tuân thủ phương pháp đó – làm theo qui tắc bạn xây dựng nên.

- Nhà đầu cơ không phải là nhà đầu tư. Mục đích của anh ta là bảo đảm lợi nhuận đều qua một khoảng thời gian dài. Nhà đầu cơ kiếm lợi từ sự tăng hoặc giảm của giá của bất cứ gì anh ta quyết định đầu cơ.

- Giao dịch độc lập. Bạn tự quyết định kiếm tiền cho mình. Giữ bí mật và im lặng về giao dịch của mình. Đừng để lộ cổ phiếu tăng hoặc giảm của bạn.

- Nhà đầu tư thành công không lúc nào cũng tham gia thị trường – nhiều lúc bạn phải nắm giữ toàn tiền mặt. Nếu bạn thiếu tự tin về xu hướng thị trường, chờ.

- Có 4 đặc điểm mạnh về tinh thần để trở thành người giao dịch giỏi hơn:

· Quan sát: khả năng quan sát thực tế không thiên kiến.
· Trí nhớ: khả năng nhớ những sự kiện quan trọng chính xác, khách quan.
· Toán học: dễ dàng học những con số tại nhà.
· Nhớ được và học từ kinh nghiệm của bạn.

- Những cảm xúc phải được hiểu và kiểm soát trước khi đầu cơ thành công có thể là:

· Tham lam là cảm xúc của con người được định nghĩa bởi từ điển Webster là mong muốn quá mức để đạt được hoặc sở hữu, mong muốn nhiều hơn nhu cầu xứng đáng. Chúng ta không biết nguồn gốc của tham lam, tất cả những gì chúng ta biết là nó tồn tại trong mỗi con người.· Sợ hãi nằm sẵn sàng xuất hiện trong mỗi nhịp tim, khi nó xảy ra nó bóp méo lý do. Người sáng suốt sẽ hành động thiếu hợp lý khi họ sợ. Và họ sợ mỗi khi họ bắt đầu mất tiền. Sự phán đoán trở nên yếu đi.· Hi vọng theo sát với tham lam khi tồn tại trong thị trường chứng khoán. Sau khi tham gia vào một giao dịch, hi vọng xuất hiện. Nó là bản chất của con người là triển vọng, là tích cực, hi vọng về điều tốt đẹp nhất. Hy vọng quan trọng để tồn tại của loài người. Nhưng hy vọng giống với anh em họ của nó trong thị trường chứng khoán, sự ngu dốt, tham lam, sợ hãi, bóp méo lý do. Hy vọng che mờ thực tế. Thị trường chứng khoáng chỉ đối mặt với thực tế. Giống sự quay tròn của bánh xe quay, banh đen nhỏ cho kết quả – không tham lam, sợ hãi, hoặc hi vọng. Kết quả là khách quan và cuối cùng không có hấp dẫn … giống như tự nhiên.

· Ngu dốt. Phải nghiên cứu và hiểu thị trường, không phải theo cách thông thường, theo cách hiểu rõ. Không giống như những thực thể khác, thị trường chứng khoán, với sức quyến rũ kiếm tiền dễ dàng và nhanh chóng, làm con người thành tên xuẩn ngốc không quản lý được tiền của họ. Ngược lại sự ngu dốt là sự hiểu biết, sự hiểu biết là sức mạnh.

· Thị trường chứng khoán không bao giờ là rõ ràng. Nó được thiết kế để đánh lừa mọi người vào nhiều lúc. Quy tắc là thường dựa trên suy nghĩ chống lại bản chất con người.

· Bạn không phải lúc nào cũng tham gia thị trường. Nhiều lúc bạn nên đứng ngoài thị trường, về mặt cảm xúc cũng như lý do kinh tế.

· Khi thị trường không phù hợp với quyết định mua hay bán của bạn, hãy chờ tới khi nó xảy ra. Đừng bao giờ đưa ra giải thích hợp lý vị thế của bạn với những gì đang diễn ra trên thị trường.

· Đừng đưa hay nhận lời khuyên, chỉ nhớ nó. Trong thị trường tăng cổ phiếu thường tăng, trong thị trường giảm chúng thường giảm.Đó là tất cả những gì mà một người cần biết, hoặc đối với bạn nói cho họ điều đó.

· Không phá qui tắc của bạn. Nhà đầu cơ cổ phiếu thường phạm sai lầm, và biết điều mà anh ta vi phạm nhưng vẫn tiếp tục dù gì đi nữa, chỉ tự trách sau đó vì phá vỡ qui tắc của anh ta.

· Không bao giờ trở thành nhà đầu tư vô tình nắm giữ cổ phiếu giảm.

· Không bao giờ mua cổ phiếu đang giảm và không bao giờ bán cổ phiếu đang tăng.

· Đừng dùng những từ tăng hoặc giảm.

Tác giả bài viết: MSWing.net
Nguồn: Sưu tầm

15 đức tính của một nhà đầu tư thành công

Bạn đã bao giờ ước mình trở thành nhà đầu tư thiên tài như Warren Buffett, Peter Lynch hay George Soros? Điều gì họ đã làm để có được thành công? Dưới đây là những điều cần thực hiện.

1. Ham học hỏi

Các nhà đầu tư thành công thường học hỏi không ngừng. Họ dành nhiều thời gian để nghiên cứu hơn các nhà đầu tư bình thường. Họ biết rằng kiến thức của mình sẽ không bao giờ là đủ, và do vậy luôn giữ đầu óc thông thoáng để có thể học bất kỳ lúc nào. Họ năng đọc sách, báo, tạp chí và tham gia các buổi hội thảo để tự hoàn thiện chính mình.

2. Luôn chuẩn bị kế hoạch rút lui

Các nhà đầu tư thành công biết rằng việc đầu tư luôn có hai mặt. Tương lai là không thể đoán được và vì vậy họ luôn chuẩn bị trước cho nó. Nhà đầu tư bình thường luôn cố gắng đoán kết quả đầu tư. Nhưng nhà đầu tư thông minh thì làm điều ngược lại, họ chuẩn bị cho cả trường hợp tốt đẹp nhất và tồi tệ nhất.

Đó là lý do tại sao các nhà đầu tư thành công luôn kiếm được tiền khi thị trường đi lên và thậm chí còn kiếm được nhiều hơn khi thị trường đi xuống. Vì vậy, nếu bạn muốn thành công, hãy chuẩn bị kế hoạch rút lui trước khi đầu tư vào bất cứ thứ gì.

3. Kiên nhẫn

Các nhà đầu tư tài ba rất kiên nhẫn. Một khi đã tính toán về vụ đầu tư nào đó, họ luôn sẵn sàng chờ đợi để chắc chắn rằng kế hoạch đó sẽ thành sự thực. Warren Buffet nói: “Tôi chưa bao giờ có ý định kiếm tiền từ thị trường chứng khoán. Tôi chỉ mua vì suy nghĩ rằng họ sẽ đóng cửa thị trường ngay ngày mai và phải đến 5 năm sau mới mở lại”.

4. Kiểm soát cảm xúc tốt

Các nhà đầu tư thực thụ đều biết rằng thị trường lên và xuống chủ yếu do hai yếu tố tình cảm là sự sợ hãi và lòng tham. Các nhà đầu tư bình thường đầu tư dựa vào cảm giác. Nhưng những người thành công thì luôn biết cách kiểm soát tốt cảm xúc của mình. Họ không cho phép những lời nói của các chuyên gia hay nhà tư vấn tài chính ảnh hưởng đến sự lựa chọn và phương pháp đầu tư của họ.

Các nhà đầu tư thành công thường có phản ứng trung lập dù họ được hay mất. Họ không từ bỏ chiến lược đầu tư của mình chỉ vì một vài thất bại và cũng không quá tự tin khi là người chiến thắng. Dù thị trường có như thế nào, thì họ cũng luôn nghĩ cơ hội thắng thua là 50-50.

5. Có chiến lược đầu tư rõ ràng

Mỗi nhà đầu tư đều phải phát triển một chiến lược đầu tư rõ ràng để gắn chặt với nó. Một vài người thành công với chiến lược đa dạng hóa danh mục đầu tư. Còn một số khác như Warren Buffet lại chỉ thích đầu tư tập trung vào một số ít cổ phiếu. Ông nói: “Đa dạng hóa là cách để chống lại việc mình không biết. Nhưng nó chẳng có mấy ý nghĩa đối với những người biết rõ là họ đang làm gì”.

J. Paul Getty – một nhà đầu tư tài ba khác, cho rằng: “Hãy mua khi tất cả mọi người đều đang bán và hãy bán khi tất cả mọi người đang mua. Đây không đơn thuần chỉ là một khẩu hiệu dễ nhớ, mà nó còn rất cần thiết cho việc đầu tư thành công”.

6. Tập trung cao độ

Andrew Carnegie nói: “Những người thành công là những người chọn cho mình một con đường và gắn chặt lấy nó”.

Các nhà đầu tư thành công thường chỉ tập trung vào một phương tiện đầu tư. Họ chỉ đầu tư một lần vào một thời điểm. Ví dụ, Warren Buffet tập trung vào cổ phiếu, Jim Rogers thích các hợp đồng tương lai và Donal Trump thì ưa chuộng bất động sản.

7. Biết tận dụng các xu thế thị trường

Một đặc điểm khác của các nhà đầu tư thành công là họ luôn biết lấy các xu thế thị trường để làm lợi cho mình. Một nhà đầu tư bình thường sẽ hoảng loạn khi thị trường biến động, nhưng một nhà đầu tư chuyên nghiệp lại rất nóng lòng chờ đón điều đó. Đơn giản vì họ có thể kiếm tiền từ việc này.

Warren Buffet nói: “Hãy coi những sự biến động của thị trường là bạn chứ đừng coi là thù. Hãy kiếm lời từ những hành động điên rồ chứ đừng tham gia vào nó”.

8. Luôn luôn vững tin

Henry Ford nói: “Khi mọi thứ dường như đang quay lưng với bạn, thì hãy luôn nhớ rằng máy bay cất cánh được khi bay ngược chiều chứ không phải thuận chiều gió”.

Vì vậy, hãy luôn trung thành với chiến lược đầu tư của mình kể cả khi bạn được hay mất. Các nhà đầu tư bình thường thiếu sự kiên định, và do vậy họ mãi mãi chỉ là những người bình thường mà thôi. Họ nhảy hết chiến lược nọ đến chiến lược kia và chỉ chăm chăm tìm kiếm các bí quyết mới.

9. Chấp nhận rủi ro

Warren Buffet nói: “Rủi ro chỉ đến khi bạn không biết mình đang làm gì”.

Đầu tư vốn đã là một sự rủi ro, nhưng nó sẽ càng rủi ro hơn nếu bạn không biết mình đang làm gì. Với các nhà đầu tư chuyên nghiệp, cơ hội thắng thua luôn là 50 – 50. Nhưng sự khác biệt lớn giữa các nhà đầu tư chuyên nghiệp và nhà đầu tư thông thường là những người chuyên nghiệp luôn đầu tư với sự hỗ trợ của cả một hệ thống quản trị rủi ro mạnh mẽ.

10. Có kỉ luật

Nhà đầu tư thành công rất hà khắc với bản thân khi đầu tư. Bên cạnh các nguyên tắc đầu tư, họ cũng tự đặt ra cho mình những chuẩn mực rất khắt khe. Họ biết rằng mình sẽ phải tuân theo rất nhiều nguyên tắc để có thể kiên trì với chiến lược đầu tư của mình mà không bị dao động bởi lời nói của các chuyên gia.

Warren Buffet nói: “Hai nguyên tắc đầu tư của tôi là: Nguyên tắc số một – không bao giờ để mất tiền. Nguyên tắc hai – không bao giờ được quên nguyên tắc một”.

11. Biết cách tận dụng các đòn bẩy

Điểm khác biệt giữa một nhà đầu tư thành công và một nhà đầu tư thông thường là đầu tư bằng tiền của người khác. Dùng tiền của người khác để đầu tư cũng là một dạng đòn bẩy. Trong cuốn sách “Cha giàu – Cha nghèo” có câu: “Từ quan trọng nhất trong đầu tư là ‘dòng tiền’, và từ quan trọng thứ hai là ‘đòn bẩy’”.

Nhưng đây không phải là dạng đòn bẩy duy nhất mà các nhà đầu tư có thể tận dụng. Đó cũng có thể là đội ngũ chuyên gia của bạn, kinh nghiệm đầu tư hay thông tin nội bộ mà bạn có được.

J. Paul Getty nói: “Nếu bạn nợ ngân hàng 100 USD, đó là vấn đề của bạn. Nhưng nếu bạn nợ ngân hàng 100 triệu USD, thì đó lại là vấn đề của ngân hàng”.

12. Nhanh chóng rút kinh nghiệm từ thất bại

Khi nói về kinh nghiệm, các nhà đầu tư chỉ nói về những lần thử nghiệm, thất bại, các bài học và sự thành công. Bạn sẽ không thể trở thành một nhà đầu tư tài ba nếu chưa từng mắc sai lầm.

Những người thành công không bao giờ nản chí vì thất bại bởi họ hiểu rằng đó là một giai đoạn trong quá trình trở thành nhà đầu tư chuyên nghiệp. Những người bình thường coi việc mắc lỗi là tệ hại, nhưng những người thành công lại cho rằng đó là cơ hội để học được những điều mới mẻ.

13. Có một đội ngũ cố vấn chuyên nghiệp

Nếu quan sát các nhà đầu tư thành công, bạn sẽ thấy rằng họ luôn có một đội ngũ cố vấn chuyên nghiệp. Các nhà đầu tư thông thường luôn đơn độc chiến đấu trên thị trường, trong khi các nhà đầu tư chuyên nghiệp luôn có cả một hội đồng hậu thuẫn.

Họ có cả một mạng lưới bạn bè là những nhà đầu tư chuyên nghiệp. Họ chia sẻ lời khuyên và cùng nhau suy nghĩ. Vậy nếu bạn cũng muốn thành công như họ, thì hãy bắt đầu tìm kiếm bạn bè của mình ngay từ bây giờ.

14. Có một nền tảng tài chính vững mạnh

Ajaero Tony Martins nói: “Trí thông minh kinh doanh không hề được tạo ra trong trường học, mà bạn nhặt được nó ở trên đường. Trong trường học, bạn được dạy làm thế nào để quản lý tiền của người khác. Và ở trên đường, bạn được dạy làm thế nào để kiếm tiền”.

Do vậy, bạn chỉ thành công khi đứng ở trên đường. Các nhà đầu tư thành công thường có một nền tảng tài chính rất vững chắc, và nền tảng đó được hình thành ở trên đường. Họ bồi đắp cho cái nền tảng đó bằng cách tham gia các buổi hội thảo, đọc sách báo, tạp chí, học từ người khác hay nghe băng. Và sau đó họ đi ra ngoài để tự tìm lấy những kinh nghiệm cho mình.

15. Luôn nhiệt tình với trò chơi đầu tư

Một tác giả nổi tiếng đã từng nói: “Nếu bạn có ý định tham gia một trò chơi, hãy chọn cho mình một trò mà bạn có thể chơi suốt cuộc đời và gắn chặt lấy nó”.

Nếu bạn nhìn vào những nhà đầu tư thông thường, họ luôn nghĩ đến việc họ đang kiếm được bao nhiêu tiền. Nhưng những nhà đầu tư thành đạt không vội hài lòng với những gì mình có, mà luôn cố gắng đạt lợi nhuận tối đa.

J. Paul Getty nói: “Sự giàu có chính là phần thưởng của trò chơi kiếm tiền, và nếu bạn chiến thắng, tiền sẽ là của bạn”.

Hà Thu (theo Investorguide)

Warren-Buffett-9230729-1-402 

Warren Buffett

Thị trường chứng khoán hiệu quả?

Phương pháp “tìm kiếm các giá trị (value) có biên an toàn đáng kể so với giá cả (price)” của Graham và Dodd đã lỗi thời chưa? Nhiều giáo sư viết sách giáo khoa ngày nay sẽ bảo nó lỗi thời rồi. Họ lập luận rằng thị trường chứng khoán rất hiệu quả; tức là, mức giá phản ánh tất cả những gì được biết về các triển vọng của công ty và về tình trạng của nền kinh tế. Các nhà lý thuyết đó cho rằng không có chứng khoán nào bị đánh giá thấp, vì có những nhà phân tích chứng khoán thông minh sử dụng mọi thông tin có được để đảm bảo là các mức giá luôn phù hợp. Những nhà đầu tư nào dường như thắng được thị trường năm này qua năm khác chỉ là gặp may. “Nếu các mức giá phản ánh đúng thông tin có được thì kiểu đầu tư tinh thông lão luyện này sẽ bị loại trừ”, một trong những tác giả sách giáo khoa ngày nay đã viết.

Vâng, có thể lắm. Nhưng tôi muốn trình bày cho các bạn thấy một nhóm nhà đầu tư từ năm này qua năm khác đã đánh thắng chỉ số 500 chứng khoán của Standard & Poor’s. Giả định rằng họ làm vậy chỉ nhờ vận may thì ít ra cũng đáng xem xét. Điều quan trọng trong việc xem xét này là tất cả những người đánh thắng này đều rất quen thuộc với tôi và được nhận định trước là những nhà đầu tư thượng thặng, lần nhận định gần nhất xuất hiện từ mười năm trước. Nếu thiếu điều kiện này – tức là nếu tôi chỉ vừa mới tìm kiếm trong hàng nghìn bảng số liệu để chọn vài cái tên cho bạn sáng nay – thì tôi sẽ khuyên bạn ngừng đọc tại đây. Tôi cũng xin nói thêm nữa rằng tôi biết nhiều người đã đầu tư với các nhà quản lý quỹ này, và những tờ séc mà những người tham gia ấy nhận qua các năm đó khớp với số liệu đã công bố.

Cuộc thi tung đồng xu

Trước khi chúng ta bắt đầu việc xem xét này, tôi muốn bạn hãy hình dung một cuộc thi tung đồng xu tầm cỡ quốc gia. Giả sử rằng chúng ta đánh thức 225 triệu người Mỹ dậy vào sáng mai và bảo tất cả họ mỗi người đặt cược một đô la. Họ đi ra vào buổi sáng lúc Mặt trời mọc và tất cả dự đoán kết quả tung đồng xu. Nếu họ gọi đúng mặt sấp mặt ngửa của đồng xu, họ sẽ thắng được một đô la từ những người gọi sai. Mỗi ngày những người thua cuộc đều bị loại ra, và vào ngày hôm sau mức cược tăng lên vì tất cả những khoản thắng trước đó đều được đưa ra cược. Sau mười lần tung vào mười buổi sáng, sẽ có khoảng 220.000 người ở Mỹ gọi đúng mười lần tung liên tiếp. Mỗi người trong số họ sẽ có khoảng hơn 1.000 đô la.

Giờ nhóm này chắc sẽ trở nên hơi phổng mũi về điều này, bản chất con người là vậy. Họ sẽ cố khiêm tốn, nhưng ở các buổi tiệc cốc-tai thỉnh thoảng họ sẽ hé lộ cho những người khác giới hấp dẫn kỹ thuật của mình là gì, và những hiểu biết sâu sắc nào mà họ đem đến cho lĩnh vực tung xu.

Giả sử rằng những người thắng cuộc nhận được phần thưởng xứng đáng từ những người thua, và trong mười ngày nữa chúng ta sẽ có 215 người đã gọi đúng 20 lần tung xu liên tiếp và những người, bằng trò thi thố này, biến một đô la thành một khoảng hơn 1 triệu đô la một chút. Sẽ có 225 triệu đô la bị thua và cũng sẽ có 225 triệu đô la được thắng.

Tới lúc ấy, nhóm này sẽ thực sự mất hết sự ung dung điềm tĩnh. Họ chắc sẽ viết những cuốn sách về “Cách mà tôi đã biến một đô la thành một triệu trong hai mươi ngày làm việc với ba mươi giây mỗi sáng”. Tệ hơn nữa, họ chắc sẽ bắt đầu bay khắp đất nước để tham dự những buổi hội thảo về cách tung xu hiệu quả và bắt đầu tấn công các giáo sư hoài nghi với câu hỏi: “Nếu đó là việc không thể thực hiện được thì tại sao chúng tôi có tới 215 người”.

Nhưng rồi một giáo sư trường kinh doanh nào đó chắc sẽ đủ khiếm nhã để nói ra thực tế là nếu có 225 triệu con đười ươi tham gia vào một trò tương tự như vậy thì kết quả cũng gần như nhau – 215 con đười ươi tự cao tự đại với 20 lần tung thắng liên tiếp.

Tuy nhiên, tôi sẽ cãi rằng có một số sự khác biệt quan trọng trong những ví dụ mà tôi sắp trình bày. Trước hết là, nếu (a) bạn lấy 225 triệu con đười ươi được phân bố đại loại đều như dân số Mỹ; nếu (b) còn 215 con thắng còn lại sau 20 ngày và nếu (c) bạn thấy rằng 40 con đến từ một vườn thú cụ thể nào đó ở Obama, thì bạn sẽ chắc là mình sắp phát hiện ra điều gì đó. Vậy là chắc bạn sẽ đi hỏi người trông nom vườn thú xem anh ta cho chúng ăn gì, và còn những chuyện khác có trời mới biết. Tức là, nếu bạn tìm thấy sự tập trung khác thường của sự thành công, bạn có lẽ sẽ muốn biết xem mình có thể nhận định sự tập trung của các đặc điểm bất thường có thể là những yếu tố nguyên nhân.

Sự điều tra khoa học thường đi theo khuôn mẫu như vậy. Nếu bạn đang cố gắng phân tích những nguyên nhân có thể của một loại ung thư hiếm – với chẳng hạn 1.500 ca một năm ở Mỹ – và bạn phát hiện thấy rằng 400 ca đã xảy ra ở một thị trấn nhỏ khai thác mỏ ở bang Montana, thì bạn sẽ trở nên rất quan tâm tới nguồn nước ở đó, hay nghề nghiệp của những người bị bệnh, hay các biến số khác. Bạn biết rằng không phải ngẫu nhiên mà có tới 400 người tập trung trong một khu vực nhỏ. Bạn không nhất thiết phải biết các yếu tố nguyên nhân, nhưng bạn sẽ biết cần tìm chúng ở đâu.

Tôi đồng ý với bạn rằng có những cách khác để xác định một căn nguyên ngoài địa lý. Ngoài căn nguyên địa lý ra, còn có một thứ mà tôi gọi là căn nguyên trí tuệ. Tôi nghĩ bạn sẽ thấy là một con số không cân đối những người tung xu thành công trong thế giới đầu tư đến từ một ngôi làng trí tuệ rất nhỏ có thể được gọi là Graham và Doddsville. Sự tập trung những người thắng không thể giải thích đơn giản bằng sự ngẫu nhiên này có thể được lần tìm về tới ngôi làng trí tuệ đó.

Có thể tồn tại những điều kiện khiến cả sự tập trung như vậy cũng trở nên không quan trọng. Biết đâu 100 người chỉ đơn giản là đang bắt chước dự đoán của một nhân vật vô cùng thuyết phục nào đó. Khi anh ta bảo mặt ngửa, 100 người làm theo đã tự động nói theo như vậy. Nếu người dẫn đầu đó là một trong 215 người còn lại cuối cùng thì việc 100 người đến từ cùng một nguồn gốc trí tuệ chẳng nói lên điều gì. Đơn giản là ta sẽ chỉ đang nhận dạng một trường hợp như cả trăm trường hợp khác mà thôi. Tương tự như vậy, giả sử rằng bạn sống trong một xã hội gia trưởng mạnh và tất cả gia đình Mỹ, nói cho thuận tiện, đều có mười thành viên. Hãy giả sử thêm nữa rằng văn hóa gia trưởng mạnh đến nỗi khi 225 triệu người dân vào cuộc vào ngày đầu tiên đó, mỗi thành viên trong gia đình đều nói theo lời dự đoán của ông bố. Giờ đây, vào cuối thời kỳ 20 ngày, bạn sẽ có 215 người thắng cuộc, và bạn sẽ thấy rằng họ chỉ đến từ 21,5 gia đình. Một số người ngây thơ sẽ cho rằng điều này chỉ ra một yếu tố di truyền vĩ đại để giải thích việc tung xu thành công. Nhưng tất nhiên, điều đó sẽ chẳng có ý nghĩa gì cả vì đơn giản nó chỉ có nghĩa là bạn không có 215 cá nhân thắng cuộc, mà là có 21,5 gia đình được phân bố ngẫu nhiên đã thắng cuộc.

Vị “gia trưởng” trí tuệ chung: Benjamin Graham

Trong nhóm những nhà đầu tư thành công mà tôi muốn xem xét, có một vị “gia trưởng” trí tuệ chung là Benjamin Graham. Nhưng những người con đã đi từ ngôi nhà của vị “gia trưởng” trí tuệ này đã dự đoán các lần “tung xu” của mình rất khác nhau. Họ đã đến những nơi khác nhau, bán và mua những chứng khoán và công ty khác nhau, nhưng họ lại có những bảng ghi kết quả tổng hợp không thể giải thích đơn giản chỉ bằng cơ hội ngẫu nhiên. Nó chắc chắn không thể được giải thích bằng nguyên nhân là họ đang dự đoán các lần tung xu giống hệt nhau vì có một thủ lĩnh ra hiệu cho họ dự đoán. Thủ lĩnh chỉ đặt ra lý thuyết trí tuệ cho việc đưa ra những quyết định dự đoán sấp ngửa, còn mỗi học trò đã tự quyết định cách thức áp dụng lý thuyết riêng cho mình.

Chủ đề trí tuệ chung của những nhà đầu tư đến từ Graham và Doddsville là: họ tìm kiếm sự khác biệt giữa giá trị của một doanh nghiệp và giá của những mảnh nhỏ của doanh nghiệp đó trên thị trường. Điều cốt lõi là họ khai thác những sự khác nhau này mà không có sự quan tâm của nhà lý luận thị trường hữu hiệu xem những chứng khoán này được mua vào thứ Hai hay thứ Năm, tháng 1 hay tháng 7, v.v… Nhân tiện, khi những nhà kinh doanh mua các doanh nghiệp – chính là những gì các nhà đầu tư của Graham và Dodd đang làm thông qua phương tiện là các chứng khoán có thể mua bán trên thị trường – tôi không nghĩ rằng nhiều người sẽ nhồi vào quyết định mua của mình ngày tháng mà giao dịch sẽ diễn ra. Nếu việc một doanh nghiệp được mua vào thứ Hai hay thứ Sáu chẳng có gì khác nhau, tôi thấy khó mà hiểu tại sao các nhà học thuật lại đầu tư quá nhiều thời gian và công sức để xem có gì khác không khi mua những mảnh nhỏ của cùng những doanh nghiệp ấy. Các nhà đầu tư của Graham và Dodd, không cần nói cũng biết, không bàn đến hệ số beta, mô hình định giá vốn đầu tư, hay hiệp phương sai trong mức sinh lời của các chứng khoán. Đó không phải là chủ đề mà họ quan tâm. Thật vậy, hầu hết mọi người trong số họ sẽ gặp khó khăn khi phải định nghĩa những khái niệm đó. Các nhà đầu tư chỉ đơn giản tập trung vào hai biến số: giá và giá trị.

Tôi luôn thấy rất lạ là có biết bao nhiêu các nghiên cứu được hình thành từ động thái của giá và khối lượng giao dịch, những thứ mà các nhà phân tích biểu đồ quan tâm. Bạn có thể tưởng tượng được việc mua cả một doanh nghiệp chỉ vì giá của doanh nghiệp đó đã lên đáng kể trong tuần trước và tuần trước nữa? Tất nhiên, lý do mà nhiều nghiên cứu được tạo thành từ những biến số giá và khối lượng là vì ngày nay, trong thời đại máy tính, có một nguồn dữ liệu gần như vô tận về chúng. Không hẳn là vì những nghiên cứu này hữu dụng; đơn giản là vì dữ liệu có ở đó và các nhà học thuật đã chăm chỉ làm việc để học các kỹ thuật toán học cần để xử lý chúng. Một khi học được những kỹ thuật này, sẽ là tội lỗi nếu không sử dụng chúng, kể cả khi việc sử dụng không có lợi ích hay tác hại gì. Như một người bạn đã nói, với một người có cây búa, thì tất cả mọi thứ đều trông giống cái đinh.

Tôi nghĩ nhóm người mà chúng ta đã nhận biết qua một ngôn nhà trí tuệ chung rất đáng để nghiên cứu. Ấy vậy mà, mặc cho tất cả những nghiên cứu học thuật về tác động của những biến số như giá, khối lượng, tính thời vụ, quy mô vốn hóa, v.v… đối với kết quả hoạt động chứng khoán, không có sự quan tâm nào được thể hiện rõ ràng đối với việc nghiên cứu những phương pháp của nhóm tập trung khác thường những người thắng cuộc theo định hướng giá trị này.

Nhóm 4 học trò của Graham

Tôi bắt đầu nghiên cứu các kết quả này bằng cách quay trở lại với nhóm bốn người của chúng tôi, những người đã từng làm việc ở công ty Graham – Newman từ năm 1954 đến hết năm 1956. Chỉ có bốn người – tôi không chọn những tên này từ hàng nghìn tên khác. Tôi đã yêu cầu được làm việc không lương ở công ty Graham – Newman sau khi tôi học lớp của Ben Graham, nhưng ông lại từ chối tôi với lý do là tôi được định giá quá cao. Ông ấy coi cái giá trị này nghiêm túc quá đi thôi! Sau nhiều lần nài nỉ, cuối cùng ông đã thuê tôi. Có ba thành viên hợp danh và cả bốn chúng tôi đều ở mức “quê mùa”. Cả bốn người đã rời khỏi công ty trong khoảng từ năm 1955 đến năm 1957 khi công ty chấm dứt hoạt động, và đã đạt được một bản ghi kết quả được đưa ra ở đây sau 28 năm.

Đây là những gì mà “Adam Smith” – sau khi tôi kể cho anh ta về Walter – đã viết về Walter trong cuối Siêu tiền tệ (1972).

Anh ta không có kết nối hay tiếp cận nào tới các thông tin có ích. Hầu như không ai trên Phố Wall biết anh ta và anh ta không được cung cấp ý tưởng gì. Anh ta nhìn vào những con số trong các cuốn hướng dẫn và gửi thư xin các báo cáo hàng năm, và có lẽ chỉ thế mà thôi.

Khi giới thiệu tôi với [Schloss], Warren cũng đã, như tôi nghĩ, miêu tả anh ta: “Anh ta không bao giờ quên rằng mình đang xử lý tiền của người khác và điều này củng cố ác cảm thông thường của anh ta đối với sự thua lỗ”. Anh ta hoàn toàn chính trực và có cách nhìn thực tế về mình. Tiền đối với anh ta là thực và chứng khoán cũng là thực – từ đó tạo ra sự cuốn hút đối với nguyên tắc “số dư an toàn”.

Walter đã đa dạng hóa rất nhiều và hiện đang sở hữu hơn 100 đầu chứng khoán. Anh ta biết nhận dạng những chứng khoán bán ở mức thấp hơn nhiều so với giá trị của chúng cho người sở hữu tư. Và anh ta chỉ làm có vậy thôi. Anh ta không lo rằng hiện giờ có phải là tháng 1 hay không, anh ta không lo rằng hôm nay có phải thứ Hai hay không, anh ta không lo rằng năm nay có phải là năm bầu cử không. Anh ta chỉ nói đơn giản là, nếu một công ty trị giá một đô la và tôi có thể mua nó với giá 40 xu thì có thể sẽ có điều tốt đẹp xảy đến với tôi. Và anh ta cứ làm như vậy, hết lần này qua lần khác. Anh ta sở hữu nhiều chứng khoán hơn tôi nhiều – và anh quan tâm tới bản chất nền tảng của doanh nghiệp ít hơn tôi nhiều: tôi không có mấy ảnh hưởng tới Walter. Đó là một trong những điểm mạnh của Walter; chẳng ai có mấy ảnh hưởng đối với anh ta.

Trường hợp thứ hai là Tom Knapp, người cũng đã làm việc ở công ty Graham – Newman cùng với tôi. Tom đã học chuyên ngành hóa học ở Đại học Princeton trước khi tham gia chiến tranh; khi trở về sau chiến tranh, anh ta thành một kẻ lang thang bãi biển. Rồi một ngày anh ta đọc được rằng Dave Dodd dạy một khóa buổi tối về đầu tư ở Đại học Columbia. Tom học khóa học này theo hình thức không lấy tín chỉ, và anh ta trở nên quan tâm tới môn này đến nỗi anh ta đăng ký vào Trường kinh doanh của Đại học Columbia, và anh ta đã có bằng thạc sĩ quản trị kinh doanh (MBA). Ngẫu nhiên thay, 35 năm sau, tôi đã đi tìm Tom để kiểm chứng một số thông tin được ghi ở đây và tôi lại thấy anh ta ở bãi biển. Điểm khác biệt duy nhất là giờ anh ta sở hữu cái bãi biển đó!

Vào năm 1968, Tom Knapp và Ed Anderson, cũng là học trò của Graham, cùng với một hoặc hai người có cùng chí hướng đã thành lập công ty Tweedy, Browne Partners và các kết quả đầu tư của họ được nêu trong bảng 2. Công ty Tweedy, Browne đã tạo dựng được một kết quả như vậy với sự đa dạng hóa rất rộng. Thỉnh thoảng họ mua quyền sở hữu kiểm soát doanh nghiệp, nhưng kết quả của các khoảng đầu tư thụ động thì cũng ngang với kết quả của các đầu tư kiểm soát.

Bảng 3 mô tả thành viên thứ ba trong nhóm, người đã lập nên công ty hợp danh Buffett Partnership vào năm 1957. Điều tốt nhất mà anh ta đã làm là rời khỏi đó năm 1969. Kể từ đó, theo một nghĩa, Berkshire Hathaway đã là sự tiếp tục của công ty hợp danh đó xét theo vài khía cạnh. Không có một chỉ số nào tôi có thể đưa ra cho bạn mà tôi cảm thấy là có thể đánh giá chính xác về việc quản lý đầu tư ở Berkshire. Nhưng tôi nghĩ là dù bạn xem xét nó thế nào, nó cũng là khá thành công.

Bảng 4 cho thấy bản ghi kết quả của quỹ Sequoia Fund, được quản lý bởi một người mà tôi đã gặp vào năm 1951 ở lớp học của Ben Graham là Bill Ruane. Sau khi học ở Trường kinh doanh của Đại học Harvard, anh ta đã đến Phố Wall. Rồi anh ta nhận ra rằng mình cần phải được đào tạo kinh doanh thực sự nên anh ta đã đến học khóa của Ben ở Đại học Columbia, nơi chúng tôi đã gặp nau vào năm 1951. Bản ghi kết quả của Bill từ năm 1951 đến 1970 khi làm việc với những lượng tiền tương đối nhỏ là tốt hơn nhiều so với trung bình. Khi tôi chấm dứt Buffett Partnership, tôi đã đề nghị Bill xem liệu anh ta có thể lập ra một quỹ để “ôm” tất cả các thành viên hợp danh chúng tôi, do đó anh ta đã lập ra Sequoia Fund. Anh ta lập ra nó vào một thời điểm rất tệ, ngay khi tôi thôi việc. Anh ta đi thẳng vào thị trường hai giá và vào tất cả những khó khăn được tạo ra đối với kết quả hoạt động tương đối của các nhà đầu tư theo định hướng giá trị. Tôi rất vui lòng mà nói rằng những thành viên hợp danh của tôi, với mức độ đáng ngạc nhiên, không chỉ ở lại với anh ta mà còn thêm tiền vào, và các kết quả tốt đẹp đã được thể hiện.

Không có cái nhìn vuốt đuôi vào quá khứ nào ở đây cả. Bill là người duy nhất mà tôi gợi ý cho các thành viên hợp danh của mình, và tôi nói tại thời điểm đó nếu anh ta đạt được mức lợi thế bốn điểm một năm so với chỉ số Standard & Poor’s thì đó sẽ là kết quả đáng nể. Bill đã đạt được nhiều hơn thế, làm việc với số tiền ngày càng lớn. Điều này khiến mọi việc khó khăn hơn. Quy mô là cái neo của hiệu quả hoạt động. Không có gì nghi ngờ về điều này. Điều này không có nghĩa là bạn không thể hoạt động tốt hơn trung bình nếu bạn trở nên lớn hơn, nhưng có nghĩa là số dư giảm xuống. Và nếu có bao giờ bạn đạt đến mức quản lý hai nghìn tỷ đô la, và đó lại chính là tổng giá trị vốn cổ đông của cả một nền kinh tế, thì bạn đừng nghĩ rằng mình có thể hoạt động khá hơn trung bình!

Tôi cần phải nói thêm rằng với những số liệu mà chúng ta đã xem, trong cả khoảng thời gian đó hầu như không có sự trùng lặp nào trong các danh mục đầu tư này. Đây là những người chọn chứng khoán dựa trên sự chênh lệch giữa giá và giá trị, nhưng họ lựa chọn rất khác nhau. Các cổ phần lớn nhất của Walter là những công ty bề thế như Hudson Pulp & Paper, Jeddo Highland Coal và New York Trap Rock Company, và tất cả những cái tên khác tự dưng đến trong đầu những người đọc ngẫu nhiên những trang báo kinh doanh. Các lựa chọn của Tweedy Browne có độ nổi tiếng thấp hơn mức đó nhiều. Mặt khác, Bill lại làm việc với những công ty lớn. Sự trùng lặp giữa các danh mục đầu tư là rất, rất thấp. Những số liệu kết quả này không phản ánh hiện tượng một người xướng dự đoán sấp ngửa và năm mươi người khác nhất loạt hô theo anh ta.

Bảng 5 là bản ghi kết quả của một người bạn của tôi, một người tốt nghiệp từ Trường Luật Harvard và đã thành lập một công ty luật lớn. Tôi tình cờ gặp anh ta vào khoảng năm 1960 và bảo anh ta là làm luật như một thú tiêu khiển thì được, nhưng anh ta còn có thể làm khá hơn thế. Anh ta đã lập nên một công ty hợp danh khác hoàn toàn so với của Walter. Danh mục đầu tư của anh ta tập trung vào rất ít đầu chứng khoán, do đó số liệu kết quả của anh dễ biến động hơn nhiều nhưng nó cũng dựa trên cùng một phương pháp chiết khấu giá trị như vậy. Anh ta sẵn sàng chấp nhận những đỉnh cao hơn và thung lũng thấp hơn trong kết quả hoạt động, và anh ta là một người mà toàn bộ tinh thần dồn vào sự tập trung, với những kết quả đã được thể hiện ra. Nhân thể, số liệu này thuộc về Charlie Munger, thành viên hợp danh của tôi khá lâu cùng hoạt động trong Berkshire Hathaway. Tuy nhiên, khi anh ta điều hành công ty hợp danh của mình, danh mục đầu tư của anh ta khác hẳn của tôi và của những người khác được nêu trên đây.

Bảng 6 là bản kết quả của một người là bạn của Charlie Munger – cũng là một người không học trường kinh doanh – anh ta tốt nghiệp chuyên ngành toán ở Đại học Nam California (USC). Anh ta đến làm việc ở hang IBM sau khi tốt nghiệp và làm người bán hàng cho IBM trong một thời gian. Đây là kết quả của Rick Guerin. Từ năm 1965 đến 1983, so với lợi nhuận tổng hợp của S&P là 316%, Rick đã có 22.200%, một con số mà, chắc là vì anh không được đào tạo kinh doanh, anh ta coi là quan trọng về mặt thống kê.

Hấp dẫn ngay lập tức hoặc hoàn toàn không

Một thông tin bổ sung: tôi thấy rất lạ thường là ý tưởng mua những tờ đô la với chỉ 40 xu sẽ hấp dẫn người ta ngay lập tức hoặc là hoàn toàn không hấp dẫn chút nào. Nó giống như là việc tiêm chủng vậy. Nếu nó không lôi cuốn một người ngay lập tức thì tôi thấy rằng bạn có thể thuyết phục anh ta hàng năm trời và chỉ cho anh ta thấy nhiều số liệu, nhưng vẫn chẳng được tích sự gì. Họ không thể nắm bắt được khái niệm đó, dù nó đơn giản đến vậy. Một người như Rick Guerin, không được đào tạo bài bản về kinh doanh, lại hiểu ngay phương pháp đầu tư theo giá trị và anh ta áp dụng nó sau đấy năm phút. Tôi chưa từng thấy ai lại chuyển đổi dần dần sang phương pháp này trong quãng mười năm cả. Hình như nó không phải là vấn đề chỉ số IQ hay đào tạo học thuật. Nó là sự nhận dạng ngay tức thì, hoặc không chấp nhận gì hết.

Bảng 7 là bản ghi kết quả của Stan Perlmeter. Stan tốt nghiệp ngành đào tạo toàn diện ở Đại học Michigan, và là một thành viên hợp danh trong công ty quảng cáo Bozell & Jacobs. Chúng tôi tình cờ lại ở cùng một tòa nhà ở Obama. Vào năm 1965, anh ta nhận thấy rằng tôi có một doanh nghiệp tốt hơn anh ta, nên anh ta đã bỏ nghề quảng cáo. Một lần nữa, chỉ mất năm phút để Stan đến với phương pháp giá trị.

Perlmeter không sở hữu những gì Walter Schloss sở hữu. Anh ta không sở hữu những gì Bill Ruane sở hữu. Đây là những bản ghi kết quả được tạo lập một cách độc lập. Những mỗi lần Perlmeter mua chứng khoán thì đó là vì anh ta đang nhận được giá trị cao hơn cho số tiền mà anh ta trả. Đó là điều duy nhất anh ta nghĩ tới.

(Trích từ bản dịch Tiếng Việt: Nhà đầu tư thông minh – Tít phụ do linhbach đặt)

 

NHNN cõng trên lưng nợ xấu ngày càng xấu

Theo chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành, thay vì làm sạch hệ thống NHTM, loại bỏ những ngân hàng kinh doanh yếu kém, bê bết ngay, NHNN đã đẩy lại vấn đề để giải quyết trong 5 năm.

“NHNN lựa chọn cách thức đứng ra bảo lãnh cho NHTM, ôm hết nợ xấu để hệ thống NHTM không đổ vỡ, lùi thời hạn giải quyết câu chuyên nợ xấu trong vòng 5 năm. Điều này cũng phù hợp với chủ trương được Chính phủ Việt Nam tuyên bố nhiều lần, Việt Nam sẽ không để cho một ngân hàng nào phá sản” – ý kiến của chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành.
 
PV:- Ngày 9/7 vừa qua, Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đã đi vào hoạt động theo Nghị định 53 của Chính phủ. Liệu ông có thể giúp dư luận hiểu rõ hơn về thực chất của việc thành lập công ty này?
 
Ông Bùi Kiến Thành: -Cả hệ thống Ngân hàng Thương mại (NHTM) đang có lượng nợ xấu khổng lồ. Thông thường, ở các nước, số nợ xấu thể hiện khoảng 1% trên tổng dư nợ đã bị coi là nhiều, đến 2% là báo động, 3% là trường hợp ngoại lệ.
Trong khi đó, tại Việt Nam, khi phát biểu về nợ xấu của hệ thống NHTM, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước khi thì nói là 10%, khi 8%, khi thì 6,8%, có những NHTM có số nợ xấu, nợ khó đòi lên tới 40-50% tổng dư nợ do các lãnh đạo ngân hàng cho vay với nhau. Nói chung, số ngân hàng có nợ xấu vượt qua vốn điều lệ không ít.
Phải làm như thế nào với những ngân hàng như thế?

Tháng 01/2013, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ra Thông tư 02 buộc NHTM thông thoáng, trung thực sắp xếp các khoản nợ xấu, nợ khó đòi và khai báo vào ngày 30/6/2013. Nhưng các NHTM đã vận động hoãn thời hạn công khai nợ xấu sang tháng 06/2014 bởi nếu phải công bố con số đó thì có thể sẽ phải tuyên bố phá sản ngay.

Trước tình hình như vậy, Chính phủ ra quyết định thành lập VAMC, một hoạt động của VAMC là mua nợ xấu của các ngân hàng. Phương thức chính là trả bằng tín phiếu của NHNN không lãi suất trong thời hạn 5 năm.

Mỗi năm NHTM phải trích lập dự phòng 20%, theo đó, trong 5 năm sẽ trả được hết nợ xấu. NHTM có thể mang tín phiếu tới NHNN để vay tái cấp vốn, với điều kiện phải trích lập dự phòng 20% mỗi năm (trong 5 năm sẽ trả hết nợ). Bằng cách ôm hết nợ xấu của các NHTM, NHNN giúp làm sạch báo cáo tài chính, tạo thanh khoản để các NHTM trở lại hoạt động bình thường.

Như vậy, có thể hiểu, thay vì làm sạch hệ thống NHTM, loại bỏ những ngân hàng kinh doanh yếu kém, bê bết ngay, NHNN đã đẩy lại vấn đề để giải quyết trong 5 năm.
PV: -Thưa ông, trong hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, liệu còn cách nào khác, tốt hơn, để xử lý vấn đề nợ xấu của hệ thống NHTM không?
 
Ông Bùi Kiến Thành:-Ở Việt Nam, hoạt động cho vay nợ tuyệt đại đa số có tài sản thế chấp, khi giải chấp có thể bán tài sản, thu hồi nợ. Có nghĩa là, người ta có thể mang bán đấu giá nợ xấu theo phương thức thuận mua vừa bán, nói nợ xấu ở Việt Nam không phải xấu 100% là vậy.
Tuy nhiên, phương thức xử lý này lại vấp phải hai cái khó như sau:
- NHTM không muốn bán tài sản thế chấp vì bị ép giá. Nếu bán với giá rẻ, NHTM sẽ phá sản do số tài sản thu hồi không đảm bảo được tính thanh khoản. Trong khi đó, nếu không xử lý được số nợ xấu, ngân hàng sẽ không thể hoạt động được và chắc chắn sẽ phá sản.
- NHNN có thể mua nợ xấu và giải quyết thay các NHTM nhưng hai bên không định giá được. Vì thế, nên NHNN mới mua nợ xấu theo giá trị ghi sổ và trả bằng tín phiếu. Người ta phản đối, tại sao mua cam thối mà trả bằng tiền cam tươi? Thực chất, vẫn có những phương cách khác để xử lý nhưng uyển chuyển chừng nào thì khả năng tiêu cực nhiều chừng ấy.
Tóm lại, NHNN lựa chọn cách thức đứng ra bảo lãnh cho NHTM, ôm hết nợ xấu để hệ thống NHTM không đổ vỡ, lùi thời hạn giải quyết câu chuyên nợ xấu trong vòng 5 năm. Điều này cũng phù hợp với chủ trương được Chính phủ Việt Nam tuyên bố nhiều lần, Việt Nam sẽ không để cho một ngân hàng nào phá sản.
PV:- Phải lý giải chủ trương “không để một ngân hàng nào phá sản” của Việt Nam như thế nào? Đó có phải là cách làm theo thông lệ quốc tế không, thưa ông?
 
Ông Bùi Kiến Thành:- Ở các nước khác, Ngân hàng nào làm việc sai quy định, tự tạo ra nợ xấu và không có khả năng thanh toán được số nợ xấu ấy sẽ phải tuyên bố phá sản. FDIC (Công ty Liên Bang bảo hiểm tài khoản ngân hàng) và Những người có liên quan tới ngân hàng yếu kém sẽ phải tự chịu trách nhiệm.
Ví dụ, biết luật chỉ bảo hiểm cho tài khoản trong ngân hàng X là 50 triệu đồng, nếu gửi nhiều hơn thì người chủ tài khoản đó phải tự chịu thiệt hại nếu ngân hàng phá sản. Bản thân người gửi tiền phải tự nghiên cứu, chọn lựa ngân hàng để gửi tiền, lãi suất cao thì rủi ro lớn, không nên chạy theo lãi suất cao mà quên đi cái rủi ro không được bảo hiểm tiền gửi.
Câu chuyện ở Việt Nam thì không đơn giản như vậy. Theo công bố của Ngân hàng Nhà nước, Việt Nam hiện có 49 ngân hàng cổ phần, trong đó 10 ngân hàng hoạt động tương đối tốt, 5 ngân hàng hoạt động khá, còn lại 34 ngân hàng được xếp vào nhóm hoạt động yếu kém.
Bảo hiểm cho mỗi tài khoản trong trường hợp ngân hàng phá sản là 50 triệu đồng. Nếu gửi 5 tỷ hay 50 tỷ đồng, thậm chí nhiều hơn, công ty bảo hiểm hoạt động ngân hàng chỉ chi trả số tiền được bảo hiểm là 50 triệu đồng, còn lại chủ tài khoản mất trắng.

Có thể suy luận rằng, trước khi một ngân hàng nào tuyên bố phá sản, người dân sẽ ùn ùn kéo tới để rút tiền ra. Những người lãnh đạo không muốn để xảy ra và phải giải quyết tình huống đó. Việt Nam đang mua thời gian để sắp xếp lại hệ thống NHTM bởi, nếu mạnh tay quá thì sẽ đổ vỡ.

PV: -Là một chuyên gia về tài chính ngân hàng, ông có tư vấn gì cho lãnh đạo NHNN và Chính phủ Việt Nam không, thưa ông?
 
Ông Bùi Kiến Thành: -Giờ NHNN đang tạo điều kiện cho các ngân hàng xấu tiếp tục xấu trên lưng của mình. Các NHTM hoạt động yếu kém đang được tiếp tế tiền để cho vay, cũng không có quy định gì trong nghị định về VAMC nói rõ ngân hàng thương mại nhận tiền vay tái cấp vốn bắt buộc phải làm gì và không được làm gì.
Không có gì đảm bảo các ngân hàng không tiếp tục vi phạm pháp luật như tiếp tục cho các cổ đông lớn vay, đầu tư vào các lĩnh vực tạo thêm nợ xấu ví dụ như bất động sản hay chứng khoán… nếu anh cảnh sát là NHNN không hoạt động hiệu quả.
Trách nhiệm của NHNN là phải thực hiện quyền thanh tra, thẩm tra của mình. Từ mấy năm nay, NHNN làm việc đó như thế nào mà để xảy ra bao nhiêu những nợ xấu, bây giờ phải nhìn nhận và sửa đổi ngay đi.
Đồng thời, NHNN phải thực hiện quyết liệt việc tái cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, đã có chủ trương từ 2 năm nay. Bước đầu tiên đã phân loại được 15 ngân hàng tốt, và 9 ngân hàng kém tệ hại (trong nhóm 34 ngân hàng yếu kém), giờ phải tính cách xử lý các ngân hàng kém tệ hại đó đi.
NHNN hãy thông tin thông thoáng cho nhân dân biết, ngân hàng nào đang hoạt động hiệu quả , ngân hàng nào lợi dụng giấy phép ngân hàng để cho nhau vay. Người dân sẽ biết và chuyển tiết kiệm sang những ngân hàng hoạt động tốt hơn. Rồi sau đó, NHNN khoanh vùng, cách ly, tỉa từng cái, từng cái một.
Với 25 ngân hàng còn lại, NHNN theo dõi, sắp xếp, ngân hàng nào tốt thì giúp thêm để hoạt động tốt hơn, ngân hàng nào kém thì tính phương án sáp nhập, hoặc cho phá sản. Làm sao để số ngân hàng thương mại co lại từ 49 như hiện nay, còn thành 20 hay 15 ngân hàng nhưng đều là những ngân hàng hoạt động tương đối tốt.
NHTM và NHNN thật sự hợp tác với nhau để tạo ra một hệ thống ngân hàng hoạt động đúng chuẩn. Đội ngũ lãnh đạo hiện nay cũng phải sửa đổi phương thức làm việc, đồng thời phải tìm ra người đủ tầm và đủ tâm để quyết tâm thay đổi căn bản hệ thống ngân hàng.
Nếu NHNN tiếp tục không làm hết chức năng nhiệm vụ dẫn tới đổ vỡ hệ thống ngân hàng thì NHNN và cao hơn nữa là Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước đất nước, trước nhân dân và trước lịch sử. Vì vậy, những chuyện chưa làm được trong mười mấy năm nay thì trong 5 năm sắp tới phải cố làm cho bằng được.
Theo Hồng Hạnh

Đất việt

0 171

Đầu tư chứng khoán ở Việt Nam có phải là trò chơi hên xui?

Yếu tố hên xui luôn luôn tồn tại trong mọi lĩnh vực trong cuộc sống và có chăng chỉ ít hay nhiều mà thôi. Khi TTCK hoạt động đi vào chuyên nghiệp hơn, vốn hoá lớn hơn thì việc thao túng, hên xui giảm đi.

Thị trường chứng khoán Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn thăng-trầm từ khi thành lập. Chúng tôi đăng tải bài viết của một nhà đầu tư đã đi cùng thị trường từ những ngày đầu. Ngoài việc đưa ra những đánh giá cá nhân về thị trường, người viết đồng thời đưa ra một số ý kiến để phát triển thị trường chứng khoán thời gian tới.
“Đầu tư chứng khoán ở Việt Nam có phải là trò chơi cờ bạc?” – Đây là một câu hỏi muôn thủa của các nhà đầu tư chứng khoán ở Việt Nam và câu trả lời thường là có nhiều ý kiến và nhiều quan điểm trái chiều và để trả lời một cách thấu đáo cho câu hỏi này, trước tiên chúng ta cần phải hiểu được bản chất của chứng khoán là gì, quá trình vận động của thị trường chứng khoán (TTCK) trong giai đoạn vừa qua, tâm lý của những nhà đầu tư… Từ đó chúng ta sẽ có một câu trả lời thuyết phục nhất cho câu hỏi này.

Những dấu mốc quan trọng của TTCK Việt Nam

Chứng khoán Việt nam được giao dịch phiên đầu tiên là ngày 28 tháng 7 năm 2000. Giai đoạn 2000 – 2007 là giai đoạn lần đầu tiên trong lịch sử 7 năm hình thành TTCK, chỉ số HOSE đạt đỉnh hơn 1.170 điểm vào ngày 12/3/2007. Ở giai đoạn này cả thị trường OTC cũng như thị trường niêm yết có một sự phát triển bùng nổ cùng với sự hỗ trợ tích cực của nên kinh tế tăng trưởng nóng, các chỉ số và thông tin vĩ mô có nhiều điểm tích cực như: Nền kinh tế Việt Nam khi gia nhập WTO (ngày 7/11/2006 ) đã có sự phát triển đáng kể; Trong năm 2006, vốn hóa của TTCK chỉ chiếm khoảng 22% GDP thì năm 2007 đã lên tới hơn 40% GDP;… Chính vì sự tăng điểm theo xu hướng liên tục đã đưa lại một lợi nhuận cực cao cho nhà đầu tư (con số lợi nhuận kỷ lục được chứng kiến là 600% trên thị trường niêm yết), trên thị trường OTC có thể còn đạt lợi nhuận cao hơn cả thị trường Niêm yết.

Chủ đề đầu tư chứng khoán trong giai đoạn này thường được đưa ra bàn tán ở khắp mọi nơi từ quán trà đá vỉa hè cho đến công sở, điều này đã kéo một lượng lớn các nhà đầu tư bỏ tiền tham gia vào TTCK. Tuy nhiên chất lượng, kiến thức của các nhà đầu tư lúc bấy giờ còn rất thấp bởi sự tham gia đầu tư của nhiều tầng lớp, từ anh xe ôm hay chị cắt tóc gội đầu đến hầu hết dân công sở ai cũng lao vào đầu tư chứng khoán, miễn sao cứ mua được cổ phiếu là đã có khả năng sinh lời bất kể cổ phiếu đó là của một công ty mới thành lập hoặc kinh doanh thua lỗ. Giá cổ phiếu tăng theo từng ngày bởi những thông tin và tin đồn.

Lợi nhuận cao, thanh khoản nhanh dẫn tới sự dễ dãi trong đầu tưnhà đầu tư không cần nhiều kiến thức cũng như kỹ năng, nghiệp vụ chứng khoán cũng có thể đạt được lợi nhuận cao, nó cũng dẫn tới sự thiếu thận trọng và chặt chẽ trong phương thức giao dịch, mua bán cổ phiếu trên thị trường OTC. Điều này đã để lại một hậu quả lớn cho giai đoạn về sau.

Nhưng kể từ cuối năm 2007 đến nay, kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng rơi vào khủng hoảng kinh tế kép, kéo dài đã làm cho thì trường chứng khoán non trẻ của Việt Nam biến động khôn lường, giảm sâu và đỉnh điểm là năm 2009, sau lần chạm đáy 235 điểm hồi tháng 2, và sau đó HOSE đã đảo chiều và tăng một mạch vượt 500 điểm vào tháng 9. Đỉnh cao nhất Vn-Index xác lập trong năm này là 624,1 điểm.

Đây là thời kỳ làm cho các nhà đầu tư phần lớn đã mất đi toàn bộ số lợi nhuận đã tích lũy trong giai đoạn trước đó và thậm chí đối với nhiều nhà đầu tư sử dụng dòng vốn vay, đòn bẩy tài chính đã thua lỗ nặng nề và gây ra nhiều hậu quả cho các nhà đâu tư và xã hội. Đây cũng là thời kỳ bộc lộ rất nhiều sự yếu kém của cơ quan quản lý và hệ thống các chính sách về chứng khoán lỏng lẻo, có nhiều điểm bất cập.Tất cả những điều đó đã tạo ra một giai đoạn thị trường chứng khoán Việt Nam có những lúc ngoài tầm kiểm soát, có quá nhiều hành vi như gian lận, lách luật, thao túng…dẫn tới nhà đầu tư mất niềm tin. Giai đoạn này đầu tư chứng khoán rủi ro, bị méo mó và có nét tương đồng như cờ bạc bịp bởi các thủ thuật làm giá, tận dụng lợi thế thông tin và quy mô vốn, đầu tư lướt sóng, đầu tư theo xu thế đám đông…để thao túng thị trường hoặc một số cổ phiếu. Bởi vậy, các nhà đầu tư chính trực sử dụng các kiến thức, kỹ thuật, nghiệp vụ phân tích chứng khoán cũng dễ dàng thất bại bởi sự vận động không theo quy luật của thị trường chứng khoán ở Việt Nam.

Sau nhiều những thất bại, rất nhiều nhà đầu tư đã quay lưng lại với thị trường chứng khoán bởi tâm lý mất niềm tin. Họ thường đặt ra câu hỏi cho chính bản thân họ: “Đầu tư chứng khoán ở Việt Nam có phải là một trò chơi cờ bạc ?”

Nói đến cờ bạc người ta thường nghĩ đến sự may rủi, hên xui, số phận, một sự bấp bênh, mong manh và nhiều biến động. Thậm chí là một trò chơi có nhiều rủi ro cao. Cờ bạc cũng thường phân thành hai loại chính là: cờ bạc bịp dùng các thủ thuật can thiệp làm thay đổi một số quy luật để đạt được mục đích và cờ bạc thật phụ thuộc hoàn toàn vào may rủi.

Vậy Chứng khoán Việt Nam có phải là trò chơi cờ bạc hay không?

Luôn có hai luồng tư tưởng về trò chơi này: Một là luôn nhận định rằng đó là trò chơi cờ bạc (đỏ đen), bởi nó có rủi ro cao, nó phụ thuộc quá nhiều vào hên xui, một sự đầu tư bấp bênh, mong manh và có quá nhiều biến động khôn lường. Thậm chí có ý kiến còn cho rằng nó như là một trò cờ bạc bịp bởi có nhiều sự thao túng từ các cá nhân hoặc tổ chức, nó bị bóp cho méo mó và có thể không tuân theo một quy luật.

Còn luồng ý kiến thứ 2 thì cho rằng: Chứng khoán không hẳn là một trò chơi cờ bạc, bởi vì thực chất của chứng khoán là việc mua bán quyền sở hữu của một hoặc nhiều tổ chức, doanh nghiệp thông qua môi trường giao dịch được mã hóa điện tử hoặc phi điện tử. Do vậy về cơ bản sự vận động của thị trường chứng khoán luôn có xu hướng bị điều chỉnh theo các quy luật kinh tế xã hội. Việc thao túng chứng khoán chỉ là những hành vi đơn lẻ của những cá nhân hoặc tổ chức cá biệt, không thể lấy đó làm mẫu và cơ sở để đánh giá chung cho lĩnh vực chứng khoán luôn là như vậy. Trong cuộc sống thì bất kể lĩnh vực nào hay ngành nghề nào cũng vậy hoàn toàn có những rủi ro, hên xui…

Theo quan điểm cá nhân của tôi thì cả hai luồng ý kiến trên hoàn toàn là đúng và chúng không phủ định lẫn nhau, mặc dù là ý kiến trái ngược nhưng nó phản ánh ở hai góc độ của một vấn đề, trong hai góc độ đó có tính trái chiều nhưng nó song hành cùng tồn tại. Khi TTCK thiên lệch về những đặc điểm của cờ bạc như: quá rủi ro, biến động không ổn định, bấp bênh và mong manh với nhà đầu tư thì lúc đó thì trường chứng khoán đúng như là một trò chơi đỏ đen, và thậm chí khi thị trường chứng khoán ở giai đoạn đầu với quy mô thị trường nhỏ dễ bị thao túng (làm giá, lợi thế thông tin, vốn của một số cá nhân, tổ chức) thì chứng khoán còn như là một trò cờ bạc bịp.

Nhưng khi TTCK phát triển ổn định, giảm thiểu các lợi thế của những nhóm cá nhân hoặc tổ chức cá biệt, đề cao tính công bằng cho mọi nhà đầu tư khi tham gia, môi trường giao dịch chứng khoán hướng tới môi trường lý tưởng, giám đi các yếu tố của cờ bạc, hên xui thì chứng khoán không còn là một trò chơi cờ bạc như đã phân tích ở trên. Đối với yếu tố hên xui thì luôn luôn tồn tại trong mọi hoạt động, mọi lĩnh vực trong cuộc sống và có chăng thì chúng chỉ tồn tại ít hay nhiều mà thôi, bởi khi TTCK hoạt động đi vào chuyên nghiệp hơn, chuẩn mực hơn, mức độ vốn hoá thị trường lớn hơn thì việc thao túng, hên xui giảm đi và không có tác động lớn đến toàn thị trường, mà thay vào đó muốn đầu tư có hiệu quả, chiến thắng thị trường thì cần đi liền với khả năng phân tích xu hướng, tình hình Tài chính của doanh nghiệp và những tác động của các yếu tố vĩ mô trong nền kinh tế, cũng như yếu tố vi mô của doanh nghiệp, tổ chức.

Mặt khác thị trường chứng khoán không chỉ là công cụ đầu tư, mua bán với mục đích sinh lời. Đây có thể là mục đích quan trọng và sau cùng, nhưng ngoài ra nó còn là công cụ để cho nhiều mục tiêu khác nhau của nhà đầu tư, cũng như tổ chức như: Mua bán sáp nhập doanh nghiệp, công cụ huy động vốn, tạo ra sự thanh khoản cho tài sản,…

TTCK Việt Nam cần phải làm gì trong những năm tới

TTCK Việt Nam đã trải qua một giai đoạn phát triển không ổn định với nhiều rủi ro cao, cũng là một sự cần thiết nhằm sàng lọc, điều chỉnh và hoàn thiện mình nhằm ngày một phát triển ổn định hơn. Để đạt được điều này thì cũng cần phải có những định hướng, những giải pháp đúng đắn trong thời gian tới.

Trước thực trạng chứng khoán của Việt Nam vừa qua, người viết cũng xin mạnh dạn đưa ra một số quan điểm cá nhân về những giải pháp và xu hướng xây dựng cho một TTCK Việt Nam ngày một hoàn thiện và phát triển ổn định, lành mạnh phục vụ cho nhiều mục tiêu trong phát triển kinh tế của đất nước như sau:

- Hướng đến khả năng quản lý của cơ quan quản lý chức năng đạt tiêu chuẩn quốc tế;

- Hoàn thiện, chuẩn hóa hệ thống pháp lý theo xu hướng đảm bảo nâng cao tính minh bạch, sự công bằng trong hoạt động đầu tư chứng khoán giữa các nhà đầu tư nhằm xây dựng và lấy lại niêm tin của các nhà đầu tư;

- Tăng cường công tác giám sát để nâng cao tính minh bạch, công bằng và đạo đức nghề nghiệp;

- Mở rộng quy mô thị trường có sàng lọc nhằm đảm bảo chất lượng cũng như hạn chế và loại bỏ sự thao túng thị trường;

Nhà đầu tư Rino Nguyen

Theo Trí Thức Trẻ

Công ty chứng khoán nhận định thị trường ngày 15/7

Các yếu tố về doanh nghiệp sẽ chiếm vai trò tác động chính tới diễn biến của thị trường.

Chứng khoán FPT-FPTS: KQKD của doanh nghiệp đang hỗ trợ thị trường

Thị trường tăng điểm mạnh hòa chung xu thế hồi phục với chứng khoán thế giới, nhiều cổ phiếu dẫn dắt duy trì được mức tăng điểm khá tốt ở thời điểm cuối phiên, đi cùng với đó là tâm lý của nhà đầu tư cũng đã tích cực hơn. Như các bản tin trước chúng tôi chờ đợi sự gia tăng của thanh khoản thì trong phiên giao dịch hôm cuối tuấn yếu tổ thanh khoản đã được cải thiện rõ rệt, tuy nhiên sự ổn định cần được xác nhận trong những phiên giao dịch tuần sau để có thể khẳng định rõ ràng hơn về xu thế.

Thị trường chứng khoán Việt Nam đang hồi phục cùng chung với diễn biến tích cực của chứng khoán thế giới mà chưa có thêm thông tin ủng hộ từ vĩ mô, hiện tại chỉ có thông tin công bố về kết quả kinh doanh quý II của các doanh nghiệp đang hỗ trợ cho thị trường. Vì vậy trong những phiên giao dịch đầu tuần sau nhà đầu tư có thể tham gia thị trường với một phần danh mục nếu xu thế hồi phục tiếp tục duy trì cùng với sự gia tăng của thanh khoản, ưu tiên những cổ phiếu cơ bản với tính hình hoạt động kinh doanh những tháng đầu năm tốt.

Chứng khoán Dầu khí-PSI: Trong ngắn hạn, nhà đầu tư chấp nhận mức độ rủi ro cao có thể quan tâm tới tín hiệu kĩ thuật MUA VÀO xuất hiện trên VN-index

Các yếu tố hỗ trợ từ vĩ mô tạm lắng, giai đoạn này thị trường sẽ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ hơn từ KQKD 6 tháng của các doanh nghiệp niêm yết, tỷ lệ chi trả cổ tức tiền mặt bình quân toàn thị trường, kì vọng nào cho 6 tháng còn lại của năm… Các yếu tố về doanh nghiệp sẽ chiếm vai trò tác động chính tới diễn biến của thị trường.

Hiện tại, chỉ tiêu P/E của VN-Index đang dao động trong khoảng 13 – 14 lần và mức này vẫn có thể chấp nhận được khi thấp hơn nhiều nước trong khu vực. Chúng tôi cho rằng với những kì vọng kinh tế trong năm 2013, chỉ tiêu P/E của HSX sẽ không giảm quá mức 12 lần, và dao động trong khoảng 12 – 15 lần. KQKD quí II của các DNNY có sự phân hóa mạnh nhưng tính bình quân tổng thể thì khả năng là chưa có cải thiện mạnh mẽ so với quí I, do đó kì vọng tăng trưởng đột biến của VN-Index có thể chưa thể tới sớm trong thời gian này.

Ở chiều ngược lại, P/E của HNX đang dao động mức 19 – 20 lần (trong khi HNX-Index giảm). Điều này cho thấy EPS của các doanh nghiệp trên HNX có chiều hướng giảm trong quí I, và chúng tôi cho rằng khả năng phục hồi nhẹ trong quí II sẽ chưa thể đem lại đột biến cho sàn này.

Dễ thấy rằng thị trường có lẽ cần thêm thời gian tích lũy, chờ đợi sự chuyển biến từ các doanh nghiệp. Ngoài ra, lợi thế về mặt cơ bản xuất hiện chênh lệch rất rõ nét giữa 2 sàn niêm yết, trong đó đa phần các doanh nghiệp có yếu tố cơ bản tốt tập trung trên sàn HSX. Chúng tôi duy trì quan điểm cho rằng thị trường sẽ tiếp tục dao động trong trung hạn với khung 470 – 540 điểm với Vn-index và 60 – 67 điểm với HNX-Index. Trong ngắn hạn, nhà đầu tư chấp nhận mức độ rủi ro cao có thể quan tâm tới tín hiệu kĩ thuật MUA VÀO xuất hiện trên VN-index với mô hình đảo chiều 2 đáy. Chúng tôi duy trì mức độ nắm giữ 50% cổ phiếu trên danh mục và ưu tiên các cổ phiếu cơ bản tốt trên sàn Hồ Chí Minh.

Thanh Hiên

Theo Trí Thức Trẻ/Bản tin các công ty chứng khoán

0 82

Rủi ro kinh doanh tiền thật trên mạng ảo

Bài học nhãn tiền mang tên sàn vàng “ảo” vẫn còn đó, nhưng nay, vì lợi nhuận, nhà-giới-người đầu tư lại tìm đến “chơi Forex” như một kênh đầu tư mới mà không hề biết rủi ro luôn rình rập

Từ những năm trước, sàn giao dịch vàng “ảo” kiếm tiền nhanh, thu siêu lợi nhuận bằng những cú “luộc” tiền ngoạn mục của chủ sàn với người đầu tư một cách dễ dàng rồi “chạy làng” đã để lại những hậu quả không biết đi đâu mà đòi là bài học cho không ít người.
Thế nhưng nay, khi thị trường chứng khoán trở nên ảm đạm, người đầu tư lại một lần nữa “mạo hiểm” khi dùng nguồn vốn của mình để tham gia mua, bán, hoán đổi chính tiền của mình bằng một mệnh giá ngoại tệ khác trên mạng Internet thông qua “trò chơi” có tên “FOREX” mà rủi ro đến mức trắng tay là hoàn toàn có thể xảy ra.

Bài học đã được đặt tên

Câu chuyện sàn vàng “ảo” – thứ đẻ non, làm ăn chụp giật và “chết” đột ngột đã để lại những hậu quả nặng nề. Đa phần người đầu tư cứ “ngỡ” mình đang “chơi vàng” là giao dịch quốc tế nhưng thực chất đều qua sự giám sát trên hệ thống máy chủ của chủ sàn, các lệnh đặt mua – bán vàng đều được giữ lại để “ăn” chênh lệch hoa hồng nếu có lợi hoặc cho “sập” mạng… vì hệ thống máy chủ, đường truyền đều do chủ sàn vàng lập ra và chi phối.

Như vậy trên thực tế rủi ro đã xảy ra và phần thua thiệt luôn thuộc về phía người đầu tư. Lý do là ở chỗ chủ sàn đã “giăng bẫy” người đầu tư ngay từ khâu hợp đồng mở tài khoản như: tài khoản bị hacker tấn công, mất mạng, tài khoản bị phong tỏa để kiểm tra, kiểm soát…; hay những lý do liên quan đến “điều kiện khách quan” mà khi xảy ra người đầu tư mới “ngã ngửa” như: mất điện, lỗi hệ thống, lỗi kết nối với mạng chủ, lệnh bán không được khớp lệnh, giao dịch nhầm lẫn…
Trong những trường hợp này, người đầu tư biết mình bị lừa thường bán tống bán tháo để thu hồi vốn mà không biết một lần nữa mình bị chủ sàn hoặc nhà cái tiếp tục “luộc” tiền bằng cách “can thiệp” trắng trợn vào giao dịch của nhà đầu tư, “dìm” giá xuống thấp tránh để người đầu tư “tháo” tiền…

Vết xe đổ

Chuyện lạ ở chỗ, bài học nhãn tiền mang tên sàn vàng “ảo” vẫn còn đó, nhưng nay, vì lợi nhuận, nhà-giới-người đầu tư lại tìm đến “chơi Forex” như một kênh đầu tư mới mà không hề biết rủi ro luôn rình rập chỉ thông qua những cú click chuột trên mạng Internet.

Hiện nay để mở và điều hành một sàn “ảo” rất đơn giản. Gồm 3 bước, thứ nhất là phải “chạy” được giấy phép kinh doanh về lĩnh vực tư vấn đầu tư hoặc tư vấn tài chính, thứ hai là “móc vốn” với chi phí tối thiểu trên dưới 100 triệu đồng để mua công nghệ của công ty nước ngoài là có thể bắt đầu “chiến đấu”. Bước thứ ba là thành lập đội “chim ruồi” giống như sàn vàng “ảo” trước đây – tung nhân viên đi khắp nơi “lôi kéo” nhà đầu tư bằng những lời chào mời hấp dẫn.

Vậy Forex là gì? Theo cách lý giải đơn giản nhất đó chính là kinh doanh, giao dịch ngoại tệ, ngoại hối trên Internet. Đây là một mảng kinh doanh đặc thù của các ngân hàng, công ty tài chính khi tham gia mua – bán, trao đổi tiền tệ trên thị trường ngoại hối.

“Chơi Forex… ảo” trên thị trường tự do thông qua Internet hiện nay mà bất kỳ ai cũng có thể tham gia được hiểu đó chính là việc giao dịch mà tiền là mặt hàng được mua, bán hoặc hoán đổi hàng hóa. Người chơi sẽ kiếm lợi nhuận bằng việc mua các “cặp” tiền tệ được dự đoán là có thể tăng, bán những “cặp” tiền tệ có thể sẽ giảm, lợi nhuận chênh lệch chắc chắn là có bởi tỉ giá trao đổi giữa các loại mệnh giá tiền của các quốc gia khác nhau trên thị trường tiền tệ luôn dao động và khi giao dịch hoàn thành số dư đó sẽ được “đổ” vào tài khoản của người chơi…

Trên lý thuyết là vậy, nhưng thực tế tiền chênh lệch có được thuộc về người đầu tư hay không lại là một câu chuyện khác. Những “chiêu trò” trong “trò chơi Forex” online cũng giống như sàn vàng “ảo” trước đây, với lợi nhuận quảng cáo mà bất kỳ một sàn Forex online nào mới mở tung ra thu hút rất đông người quan tâm.

Khi đã có người chơi, chủ sàn chỉ ngồi đó “rung đùi” trục lợi mà không phải đổ một giọt mồ hôi. Nhẹ nhàng thì ăn hoa hồng trung gian và thu phí giao dịch với mức phí vài chục USD cho 1 lần giao dịch, làm một phép tính đơn giản thì 1 người 1 ngày vài giao dịch chủ sàn cũng đút túi được rất nhiều tiền. Nặng hơn thì họ sẵn sàng “chọc vòi bạch tuộc” vào cuộc chơi và bắt đầu hút vốn của người đầu tư bằng cách xóa lịch sử giao dịch nếu người đầu tư có lãi lớn trong việc mua bán để từ chối thanh toán tiền; dùng công nghệ phần mềm để nâng giá lúc người đầu tư mua, hạ giá lúc họ bán; lập “đội cò” mua vào ồ ạt để tạo nhu cầu ảo, đẩy mệnh giá tiền lên cao tạo “sốt ảo” hút người đầu tư mua khiến họ “cháy vốn”…

Với những rủi ro được báo trước, vậy tại sao nhiều người vẫn lao vào tham gia trò chơi này? Câu trả lời là vì các kênh đầu tư trên thực tế đều bị “khóa gọng kìm”: bất động sản đóng băng, chứng khoán u ám, lãi suất tiền gửi ngân hàng thấp, giá vàng lên xuống bất thường… mà giới đầu tư thì không bao giờ chịu để nguồn vốn của mình “ngủ yên” nên họ thường xoay sở các kiểu. Bởi thế “chơi Forex” trở thành sự lựa chọn của các nhà đầu tư.

Trò chơi này cũng có những ưu điểm hấp dẫn giới đầu tư khi chỉ phải bỏ ra một khoản tiền khiêm tốn nhưng mức lợi nhuận lại rất cao. Không giống như sàn vàng, chứng khoán với những điều kiện về khả năng tài chính, quy định pháp lý hay những phiên chốt cần sự chính xác về thời gian, kinh doanh tiền thông qua sàn Forex nổi lên với những lợi thế như số tiền lưu thông lớn, có thể đặt lệnh giao dịch khống, gấp 500 lần số tiền ký quỹ, lợi nhuận chuyển về nhanh, phù hợp với việc “đánh nhanh, hạ màn sớm”…

Cần cảnh giác

Hiện nay, “chơi Forex” phổ biến đến mức trên mạng Internet tồn tại rất nhiều các website từ trong nước đến quốc tế hướng dẫn chi tiết cách tham gia, mời chào, môi giới đầu tư, hỗ trợ từ A đến Z, liên kết link tới “cuộc chơi… ảo”… kinh doanh tiền “thật”. Rất đơn giản khi bất kỳ ai muốn “chơi Forex”, chỉ cần lên Internet, có một ít tiền làm vốn ban đầu là có thể tham gia giao dịch 24/24h với những phần mềm kinh doanh Forex được các nhà môi giới cung cấp miễn phí, và điểm “hút” đó chính là người đầu tư có thể nhìn thấy ngay lợi nhuận sau giao dịch. Nhưng không phải ai cũng biết họ đang bị các “broker” (người môi giới) dẫn dụ bằng những dự đoán tưởng chừng như khách quan, có lợi cho người đầu tư rồi sa đà và “cháy vốn” với những dòng ngoại tệ đang mất giá…

Pháp lệnh ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 13-12-2005 và các Nghị định, hướng dẫn kèm theo nêu rõ việc kinh doanh trao đổi ngoại tệ chỉ được thực hiện bởi các tổ chức tín dụng và tổ chức được phép giao dịch. Đối với cá nhân, Thông tư 20/2011/TT-NHNN ngày 29-8-2011 quy định việc mua, bán ngoại tệ tiền mặt của cá nhân với tổ chức tín dụng được phép bắt buộc phải có giấy tờ chứng minh với các mục đích sử dụng như: học tập, chữa bệnh, đi công tác, du lịch nước ngoài…
Luật sư Hoàng Văn Dũng, Công ty Luật Hợp danh Bros và cộng sự: Người Việt “chơi Forex” là vi phạm các quy định của pháp luật

Thực tế, việc kinh doanh ngoại tệ qua sàn giao dịch “ảo” luôn thường trực những rủi ro cả về mặt kinh tế lẫn pháp lý mà thiệt hại đầu tiên luôn thuộc về người đầu tư. Khác với nhiều quốc gia trên thế giới khi họ “nới rộng vành đai” cho các công ty giao dịch trung gian tham gia thị trường, trong đó có cả những giao dịch mà nhà đầu tư là cá nhân thì ở nước ta lại ngược lại khi Ngân hàng Nhà nước chưa cấp phép cho cá nhân tham gia, mà chỉ đáp ứng nhu cầu tiền tệ khác nhau của các ngân hàng, tổ chức tài chính, tín dụng lớn của trong nước và quốc tế.
Chính vì vậy, về mặt pháp luật có thể khẳng định tham gia “chơi Forex” là vi phạm các quy định của pháp luật.
Trong giai đoạn hiện nay, loại tội phạm lợi dụng hoạt động tư vấn, kêu gọi đầu tư, mua bán ngoại tệ thông qua mạng Internet cực kỳ phức tạp. Đã có không ít nạn nhân bị lôi kéo tham gia vào loại hình đầu tư này cứ tăng theo cấp số nhân với số tiền bị chiếm đoạt rất lớn. Hầu hết bọn tội phạm núp bóng một công ty hay doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh tư vấn hoặc môi giới, có trụ sở giao dịch cố định, tự tạo ra website có nguồn gốc nước ngoài in thư mời, quảng cáo và cho nhân viên đi tiếp thị.
Tuy nhiên, người chơi vẫn bị hấp dẫn bởi hình thức đơn giản, tham gia dễ dàng, thủ tục nhanh gọn, ít tốn chi phí cộng với những lời chào mời hấp dẫn từ các tổ chức cung cấp dịch vụ đầu tư Forex không được cấp phép, không ít cá nhân, nhà đầu tư đã tham gia giao dịch trên thị trường này mà không biết vô số những rủi ro đang chờ đón họ.

 

Theo Quân.Trần

An ninh thủ đô

 VAMC đi vào hoạt động sẽ không tạo cú hích lớn đối với thị trường chứng khoán

Có nhiều khu vực mà VAMC không chạm tới, ví dụ nợ xấu của các Doanh nghiệp Nhà nước mà không có tài sản đảm bảo.

Chỉ còn khoảng hơn 10 ngày nữa (ngày 9/7) Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) sẽ chính thức đi vào hoạt động. Liệu nó có tạo cú hích đối với thị trường chứng khoán hiện nay hay không? Xoay quanh vấn đề này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với Ông Nguyễn Việt Đức – Giám đốc phân tích Quỹ SHF.

Theo ông VAMC đi vào hoạt động sẽ tác động như thế nào đến thị trường chứng khoán trong tháng 7 nói riêng và TTCK trong năm nay nói chung?

Những ảnh hưởng tích cực từ việc thành lập VAMC đã phản ánh vào sự tăng trưởng 20% của thị trường chứng khoán từ đầu năm tới nay, cho nên tôi không kỳ vọng việc VAMC chính thức hoạt động sẽ tạo ra một cú hích lớn tương tự trong ngắn hạn.

Xét về trung hạn, VAMC chỉ là một phần của những giải pháp giúp Việt Nam giải quyết nợ xấu và hồi phục tăng trưởng kinh tế.

Có nhiều khu vực mà VAMC không chạm tới, ví dụ nợ xấu của các Doanh nghiệp Nhà nước mà không có tài sản đảm bảo, và bản thân VAMC cũng không chú trọng vào liệu pháp “shock” mà sử dụng giải pháp mua thời gian, giúp các ngân hàng có khoảng thời gian 5 năm để xử lý nợ xấu.

Hiểu theo ý nghĩa như vậy thì sẽ không có một sự hồi phục thần kỳ mà là một quá trình chuyển biến dù tích cực, ít rủi ro hơn nhưng cũng chậm chạp hơn của nền kinh tế.

Trong bối cảnh đó và với định giá hiện tại, thị trường chứng khoán sẽ được hưởng lợi, nhưng sẽ không phải là những cơn sóng thần, và nếu có những đợt tăng mạnh tạo ra bởi sự lạc quan thái quá của thị trường thì cũng chỉ là trong ngắn hạn, còn xu thế chung của thị trường sẽ không tách khỏi xu thế chung của nền kinh tế.

Ông có nghĩ rằng VAMC đi vào hoạt động sẽ tác động trực tiếp hay nói một cách khác là cổ phiếu ngành ngân hàng sẽ được hưởng lợi không?

Vấn đề của cổ phiếu ngân hàng hiện nay là sự thiếu minh bạch. Khi  thông tư 02 tạm hoãn thì nhà đầu tư cũng không biết được thực chất nợ xấu của ngân hàng và không thể đánh giá chính xác giá trị của ngân hàng nên sẽ do dự khi mua cổ phiếu.

Vấn đề thứ hai là sự suy giảm lợi nhuận, xuất phát chủ yếu từ sự suy giảm tăng trưởng tín dụng, cũng như việc tất toán nguồn vốn từ huy động và cho vay vàng dẫn tới sự thu hẹp bảng cân đối tài sản ở một số ngân hàng lớn.

Thông qua VAMC, các ngân hàng sẽ có khả năng tiếp cận nguồn vốn tái cấp vốn nhưng hiện nay nguồn này có lãi suất cũng cao (7%/năm), trong khi đó ngân hàng vẫn phải trích lập dự phòng tối thiếu 20%/năm mệnh giá trái phiếu và đầu ra tín dụng thì vẫn hạn chế.

Cho nên, tôi cho rằng tác động tích cực sẽ không lớn trong ngắn hạn, và sẽ tập trung vào các ngân hàng đã sớm thực hiện tái cấu trúc.

Bên cạnh việc sử dụng VAMC để xử lý nợ xấu, tôi cho rằng một biện pháp rất quan trọng khác là việc tái cấu trúc các tổ chức tín dụng và nâng cao vốn chủ sở hữu (thông qua phát hành thêm cổ phiếu, bán cho đối tác nước ngoài hoặc nhà nước hỗ trợ) sẽ tiếp tục được đẩy mạnh và nó cũng có thể dẫn tới sự pha loãng cổ phiếu ngân hàng.

Vậy ông có nghĩ rằng ưu điểm hiện nay của TTCK Việt Nam chính là cổ phiếu giá rẻ không?

Với định giá P/E hiện nay khoảng 13.5 – 14 lần và một tiềm năng tăng trưởng lợi nhuận cổ phiếu là 15%/năm, tôi cho rằng cổ phiếu nói chung chỉ còn hơi rẻ, chứ không phải là rẻ như 6 tháng hay 1 năm trước.

Dù vậy thì thị trường nói chung còn có thể tăng 10% từ mức hiện nay mà vẫn chưa đắt.

Xét trong quá trình phục hồi kinh tế, sự hấp dẫn của các kênh đầu tư khác cũng như thói quen đầu tư của nhà đầu tư trong nước thì sẽ không ngạc nhiên nếu cổ phiếu trở nên đắt mà vẫn có nhiều người sẵn sàng mua.

Xin cảm ơn ông!

Khánh Linh (thực hiện)

Theo Trí Thức Trẻ